Tác giả: Thương Thái Vi
Dịch giả: Greenrosetq
Giá bìa: 79.000 ₫
Công ty phát hành: Đinh Tị
Nhà xuất bản: NXB Thời Đại
Nguồn: http://luv-ebook.com
Số trang: 304
Ngày xuất bản: 01/11/2013
Trong cuộc sống hiện thực, khi mỗi con người cất tiếng khóc chào đời, rồi lớn lên, rồi trưởng thành, rồi gặp được người trong định mệnh…Tất cả những giai đoạn đó, đều tuân theo một quy luật đã được định sẵn, quy luật đó mang tên “Vận mệnh”. Khi đọc “BếnXe” của tác giả Thương Thái Vi, tôi mới thấm thiết cái quy luật mang tên “Vận mệnh” đó lại tàn nhẫn và bất công đến mức khiến tôi cảm thấy sợ hãi, không ai có thể tự lựa chọn vận mệnh cho mình, chúng ta có thể là thiên tài nổi trội cũng có thể là một con người bình thường trong dòng dòng xã hội. Tuy nhiên, chúng ta có thể dùng nghị lực để thách thức rồi đối đầu với chính vận mệnh đó, và cuộc đời của thầy Chương Ngọc cùng với cô học trò nhỏ của thầy trong “Bến Xe” là một ví dụ như vậy.
Bến xe của tác giả Trung Quốc Thương Thái Vi là câu chuyện tình cảm động giữa thầy giáo dạy Văn khiếm thị Chương Ngọc và cô học trò cấp ba Liễu Địch.
Chương Ngọc là một người tài hoa và có nhân cách cao đẹp, một đám cháy lớn đã cướp đi của anh tất cả tài sản và đôi mắt. Chương Ngọc xin về làm giáo viên dạy Văn tạm thời tại một trường trung học. Mang trong lòng nỗi mặc cảm và kiêu hãnh, Chương Ngọc tạo cho mình vỏ bọc lạnh lùng, khác người, không chấp nhận bất kỳ sự giúp đỡ thương hại nào của bạn bè, đồng nghiệp.
Liễu Địch là cô học trò nhỏ hồn nhiên, trong sáng, yêu văn chương và có tấm lòng nhân hậu. Những bài giảng của thầy giáo mù Chương Ngọc cho cô biết ước mơ, dạy cô biết hướng tới lý tưởng sống cao đẹp. Cảm động trước những bài học của thầy, Liễu Địch kiên quyết muốn giúp đỡ thầy giáo trong cuộc sống. Cô tình nguyện làm trợ lý cho thầy ở trường, đưa thầy từ trường ra bến xe, chấm bài giúp thầy. Nhờ Liễu Địch, Chương Ngọc đã tìm lại ánh sáng cho tâm hồn mình từ khi anh mất đi đôi mắt.
Hai tâm hồn, tính cách, thế hệ cách xa nhau nhưng đã tìm thấy ở nhau sự đồng điệu. Ở họ, ngoài tình thầy trò còn nhem nhóm một tình yêu âm thầm, cao cả, thánh thiện. "Bến xe" là ẩn dụ về một điểm dừng trong cuộc đời mỗi con người, khi người ta nhìn lại những điều đã qua và lạc quan chờ đợi những gì đang tới.
Chương 1
Liễu Địch lại đứng trước cánh cửa văn phòng đó.
Vừa qua mười hai giờ trưa, cả tòa nhà vắng vẻ, tĩnh mịch, chỉ có tiếng ve sầu kêu râm ran không biết mệt mỏi trên những tán cây ngoài sân trường. Liễu Địch lau mồ hôi trên trán, điều hòa nhịp thở dồn dập do chạy một mạch tới đây. Cô giơ tay, gõ nhẹ lên cánh cửa hai tiếng.
“Mời vào!” Bên trong vọng ra giọng nói trầm thấp, lịch sự nhưng lạnh nhạt. Liễu Địch đẩy cửa, đi vào phòng.
Đây là một văn phòng làm việc đơn giản như không thể đơn giản hơn. Trong phòng chỉ có một cái bàn làm việc, hai chiếc ghế đặt đối diện nhau. Trên bàn có một chiếc bình giữ nhiệt với vỏ ngoài bằng sắt, hai tách trà sứ màu trắng, một chiếc cặp da đen, một lọ mực đỏ có cắm chiếc bút. Bên cạnh đó là đống vở bài tập xếp ngay ngắn.
Một người đàn ông đang ngồi trên chiếc ghế tựa vào cửa sổ. Anh mặc bộ đồ đơn giản, áo sơ mi trắng, quần đen, gọn gàng, sạch sẽ nhưng có vẻ cứng nhắc, giống hệt văn phòng của anh.
Thần sắc người đàn ông nhợt nhạt, vậy mà trên gương mặt đó còn có một cặp kính đen cỡ lớn, tựa hồ một chiếc đầu lâu được khảm hai hốc mắt đen sì, mang lại cảm giác u ám, đáng sợ.
Một điều kỳ lạ là người đàn ông ngồi ngược sáng, gương mặt anh càng trở nên tăm tối. Anh giống một xác chết biết đi, khiến người đối diện có cảm giác lạnh lẽo và rờn rợn. Căn phòng này cũng trầm lặng giống như chủ nhân của nó. Thứ có sinh khí duy nhất là chậu hoa nhài trên bệ cửa sổ. Những nụ hoa trắng muốt hé nở, theo làn gió nhè nhẹ, tỏa hương thơm thấm vào lòng người.
Thầy giáo chỉ tay vào chiếc ghế đối diện. Liễu Địch liền đi đến rồi ngồi xuống. Cô lấy quyển vở đầu tiên trong đống vở bài tập trên bàn một cách thành thạo, sau đó hắng giọng, bắt đầu đọc to: ““Phụ thân”. Lưng của người lại còng rồi…”
“Dừng!” Thầy giáo quả quyết ngắt lời Liễu Địch. “Đổi chữ “lại” thành chữ “càng”.” Liễu Địch cầm bút sửa lại, cô đã có thói quen phục tùng thầy giáo từ lâu. Thầy giáo có sự nhạy cảm đến mức cực đoan đối với chữ nghĩa. Điều này khiến Liễu Địch tâm phục khẩu phục.
Sửa xong, Liễu Địch lại đọc tiếp…
Sau khi đọc xong bài văn, thầy giáo trầm tư một lát rồi lên tiếng: “Em hãy viết nhận xét: Nếu câu từ không chuẩn xác, không trang nhã, chẳng khác nào quần chưa kéo khóa đã lên sân khấu biển diễn.”
Liễu Địch đỏ mặt nhưng vẫn viết câu đó. Cô biết rõ phong cách phê bình của người thầy trước mặt, chỉ một, hai câu ngắn gọn nhưng như con dao sắc nhọn, cắm sâu vào chỗ hiểm một cách quả quyết và chuẩn xác, khiến bạn rất đau đớn, nhưng lại có thể giúp bạn tìm được điều gì đó trong nỗi đau.
Liễu Địch vẫn còn nhớ cảnh tượng lần đầu tiên thầy giáo nhận xét bài văn của cả lớp. Lúc phát vở bài tập, gần như các bạn trong lớp bị đả kích nặng nề bởi những lời nhận xét chỉ có khuyết điểm, không có ưu điểm của thầy. Có người òa khóc ngay tại chỗ, có người chửi ầm lên. Thầy giáo chỉ yên lặng đứng trên bục giảng, coi như không nghe thấy. Kể từ giây phút đó, mỗi lần làm văn, các bạn đều hết sức cẩn thận, dè dặt trong việc chọn đề tài và bố cục. Họ cũng thận trọng đặt câu, chỉ sợ lại bị thầy nhận xét cay nghiệt. Vậy mà cả lớp vẫn bị phê bình, mức độ ngày càng gay gắt. Nhận sự đả kích hết lần này đến lần khác, các bạn dần phát hiện, trình độ làm văn của mình tiến bộ nhanh chóng.
Liễu Địch là học sinh duy nhất chưa từng bị thầy phê bình. Bài văn của cô không có lời nhận xét, chỉ có điểm số, điểm cao nhất lớp. Mặc dù lúc chấm điểm, thầy không bao giờ hỏi ai viết bài văn này, Liễu Địch cũng không bao giờ tiết lộ tên cô, nhưng đến khi trả bài, thầy luôn nói: “Liễu Địch, em hãy đọc bài văn của em cho cả lớp nghe.”
Viết xong, Liễu Địch lại cầm quyển vở thứ hai lên…
Lúc này bên ngoài cửa sổ, tiếng huyên náo dần át tiếng ve kêu. Phê xong quyển bài tập thứ mười, Liễu Địch nhìn đồng hồ đeo tay, một giờ hai mươi lăm phút, thế là cô đứng dậy, cất giọng nhẹ nhàng: “Thầy Chương, sắp đến giờ lên lớp rồi.”
Thầy Chương cũng chầm chậm đứng dậy. Liễu Địch đi đến đỡ thầy, hai thầy trò cùng rời khỏi văn phòng.
Ngôi trường cấp ba trọng điểm hàng đầu của tỉnh này có hai tòa nhà. Lớp 11-1 của Liễu Địch nằm ở tầng hai dãy phía nam, trong khi văn phòng của thầy Chương nằm ở tầng bốn dãy phía bắc. Hai thầy trò phải leo cầu thang khá cao, đi qua sân thể dục tương đối rộng. Tòa nhà phía bắc cũ kĩ, cầu thang lên xuống đã xập xệ. Liễu Địch vừa cẩn thận đi từng bước đề phòng mấy cậu nam sinh chạy hùng hục có thể lao vào mình. Mặc dù vậy, cô vẫn bị một nam sinh cao lớn đang chạy lên tầng va phải vai. Liễu Địch vội vàng lắc đầu, ra hiệu cho cậu nam sinh im lặng. Sau đó, cô tiếp tục đi về phía trước như không có chuyện gì xảy ra. Tuy bờ vai nhói đau nhưng cô vẫn không buông tay khỏi thầy Chương.
Giữa sân thể dục, một đám học sinh nam lớp 12 đang đá bóng. Liễu Địch chau mày quan sát. Cô sợ nhất là đi qua nơi này, sợ “đạn pháo” hai màu trắng đen bay đi bay lại đập trúng người, sợ những “cỗ xe tăng” đâm phải thầy Chương. Cũng như mọi hôm, cô rảo bước thật nhanh. May mà không xảy ra sự cố, hai thầy trò ra khỏi “khu vực nguy hiểm” một cách an toàn.
Đến khu vực tòa nhà phía nam, không khí dễ chịu hơn hẳn. Tòa nhà phía nam là dãy phòng học mới xây dựng chưa được hai năm. Các phòng học rộng rãi, sáng sủa, trông có vẻ giống những ngôi trường hiện đại. Lúc này, Liễu Địch mới thở phào nhẹ nhõm. Cô đỡ thầy Chương đi vào lớp, tới chỗ bục giảng. Sau đó, cô mới quay về chỗ ngồi của mình.
Liễu Địch khát khô cổ họng, bụng nhâm nhẩm đau do ăn cơm trưa quá vội. Cô vuốt bụng theo thói quen, lặng lẽ rút quyển sách Ngữ văn. Tiếng chuông báo hiệu giờ lên lớp reo vang, thầy Chương cất giọng trầm trầm: “Chúng ta bắt đầu học.”
Chương 2
Liễu Địch vĩnh viễn không bao giờ quên cảnh tượng lần đầu tiên gặp thầy Chương Ngọc.
Lúc đó, cô mới thi đỗ vào ngôi trường cấp ba trọng điểm có lịch sử lâu đời với thành tích đứng đầu toàn thành phố. Tuy nhiên, thành tích của cô khiến người khác vui mừng, còn bản thân cô không hề cảm thấy tự hào. Liễu Địch nhanh chóng chán ngán tình cảnh gặp ai cũng được khen ngợi và chúc mừng. Mọi người đều gọi cô là “thiên tài”, trong khi đó cô rất ghét bị gọi là “thiên tài”.
Liễu Địch còn nhớ, năm lên bốn tuổi, khi cô được bế đứng trên ghế, cất giọng non nớt đọc thuộc làu hai câu: “Xuân giang triều thủy liên hải bình. Hải thượng minh nguyệt cộng triều sinh”[1] trước mặt một học giả, cô nhìn thấy ánh lệ lấp lánh trong mắt vị học giả đó. Kể từ lúc đó, Liễu Địch được gọi là “thiên tài”.
[1] Hai câu thơ trong bài Xuân quang hoa nguyệt dạ (Đêm trăng hoa trên sông xuân) của Trương Nhược Hư, nhà thơ đời Đường, Trung Quốc. Dịch thơ: “Triều lên ngang mặt sông xuân. Biển đêm, trăng cũng sáng ngần sóng xô” (bản dịch của Nguyễn Lãm Thắng).
Năm tuổi, Liễu Địch có bài thơ đầu tiên đăng tạp chí. Biên tập viên của tạp chí còn đến tận nhà chúc mừng cô. Nhìn chú biên tập viên mặt nhễ nhại mồ hôi, cô biết mình có chút tài năng. Sau đó, Liễu Địch đoạt giải nhất cuộc thi viết văn toàn quốc năm chín tuổi, tác phẩm của cô thường xuyên xuất hiện trên báo và tạp chí, cô không ngừng được thiên hạ gắn mác “thiên tài”.
Chỉ là nghe quá nhiều, Liễu Địch lại không đồng tình, thậm chí cô bắt đầu nghi ngờ bản thân rốt cuộc có phải là “thiên tài” hay không? Nhìn gương mặt thiếu nữ ngày càng xinh xắn trong gương, cô đột nhiên cảm thấy danh hiệu “thiên tài” mà cô giành được là dựa vào dung nhan này. Những cô gái xinh đẹp chỉ cần có một chút tài hoa là dễ dàng được người khác phái ưu ái và coi trọng. Trên thế giới, điều này là luật bất thành văn.
Mỗi khi nghĩ đến nguyên nhân đó, Liễu Địch lại cảm thấy vô vị và chán nản. Cô nhìn quá đủ những gương mặt tươi cười của người khác khi họ khen ngợi cô. Những gương mặt đó thể hiện sự nhiệt tình quá mức, thành ra không tự nhiên, Liễu Địch kết luận bằng hai từ “giả tạo”. Cô cho rằng, ánh lệ trong ánh mắt vị học giả và mồ hôi trên trán chú biên tập viên mới là chân thực, mới là khẳng định từ “thiên tài” một cách chuẩn xác nhất. Nhưng đó là chuyện từ ngày xửa ngày xưa, hiện tại cô đã mười sáu tuổi, còn dám vỗ ngực tự xưng là “thiên tài” hay sao? Vì vậy Liễu Địch ngày càng ghét hai chữ “thiên tài”.
Xét ở một khía cạnh khác, là thiên tài thì sao chứ? Cô vẫn không có quyền lựa chọn cuộc sống của mình. Cô thích văn học nhưng vẫn phải cắm đầu học các môn Toán, Lý, Hóa. May mà ông trời ban tặng cho cô bộ óc thông minh, cô không cần chăm chỉ cũng có thể học tốt ba môn đó.
Liễu Địch không hiểu cô phải học những định luật, công thức và nguyên lý đó để làm gì. Trong tương lai, cô tuyệt đối không sống dựa vào mấy môn học khô khan này. Nhưng Liễu Địch biết rõ, nếu không học mấy môn chán ngắt đó, cô sẽ không thể thi đỗ đại học, không được tiếp nhận nền giáo dục chính quy mang tính hệ thống. May mà năm lớp 11, trường bắt đầu phân ban, Liễu Địch có thể nói “bye bye” với môn Vật lý và Hóa học. Điều này khiến cô cảm thấy được an ủi phần nào.
Từ trước đến nay, Liễu Địch không muốn sống trái với ý nguyện của bản thân. Vì vậy cô không tham gia đoàn thể, không làm cán bộ lớp, thậm chí bỏ lỡ vô số cuộc thi văn do trường tổ chức. Nhưng cô vẫn phải ép mình học các môn tự nhiên. Trong cuộc sống, bạn vĩnh viễn không có cách nào làm mọi việc theo ý mình, dù bạn có là thiên tài đi chăng nữa.
Học ở ngôi trường trọng điểm, Liễu Địch không mong bản thân được bạn bè để ý và yêu quý, cũng không hy vọng các thầy cô đề cao cô. Cô không tâng bốc ai, không lấy lòng ai. Cô chỉ cần một cuộc sống chân thực, tự do, độc lập. Cô hy vọng sau khi cô qua đời, trên bia mộ cô khắc một câu của nhà văn người Pháp Stendhal[2]: “Từng sống, từng yêu, từng sáng tác, từng phát biểu…”
[2] Stendhal (1783-1842): một trong những nhà văn nổi tiếng nhất của chủ nghĩa hiện thực với các tiểu thuyết như Đỏ và đen, Tu viện thành Pama.
Mang tâm trạng đó, Liễu Địch gặp thầy Chương Ngọc ở tiết ngữ văn đầu tiên của năm lớp 10.
Liễu Địch vẫn còn nhớ rõ, lúc thầy Chương Ngọc đi vào lớp, không hiểu tại sao cả phòng học vốn đang ồn ào đột nhiên yên tĩnh hẳn. Ai nấy đều cảm thấy có điểm gì đó bất bình thường nhưng không biết diễn tả ra sao. Thầy Chương dè dặt bước từng bước lên bục giảng trong không khí yên lặng đó.
Bộ dạng của thầy Chương nghiêm túc đến mức thâm trầm. Thầy cao gầy, sống lưng thẳng tắp, sắc mặt trắng bệch vô cảm, bờ môi mím chặt. Đặc biệt là cặp kính đen như hai hốc mắt trên hộp xương sọ, mang lại cảm giác lạnh lẽo, âm u, thê thảm. Chỉ liếc qua thầy, Liễu Địch đã bất giác rùng mình. Cô có cảm giác không phải mình đang nhìn thầy giáo, mà như đi vào một ngôi cổ mộ tĩnh mịch, chết chóc, vừa vào đã bị bao vây bởi nỗi kinh hoàng đáng sợ.
Không có màn tự giới thiệu, không có lời mở đầu, thầy Chương bắt đầu giảng bài.
“Các em, hôm nay chúng ta học tản văn Ánh trăng bên hồ sen của Chu Tự Thanh[3]. Mời các em mở sách giáo khoa, tôi sẽ đọc bài văn một lần.”
[3] Chu Tự Thanh (1898-1948): tự là Bội Huyền, người tỉnh Chiết Giang, tốt nghiệp khoa Văn-Triết trường Đại học Bắc Kinh (1920), từng là thầy giáo dạy Văn. Ông là nhà văn nổi tiếng Trung Quốc, sáng tác ở nhiều thể loại và có số lượng tác phẩm đồ sộ.
Lớp học bỗng xôn xao, nhưng nhanh chóng yên tĩnh trở lại. Liễu Địch đưa mắt về bục giảng, hai tay thầy Chương trống không. Thầy không hề cầm sách.
“Mấy ngày gần đây, trong lòng không yên tĩnh. Tối nay ngồi ở trước sân hóng mát, tôi đột nhiên nhớ tới hồ sen tôi vẫn ngày ngày đi qua. Dưới ánh trăng sáng ngời, nó có một dáng vẻ khác biệt. Trăng dần lên cao, tiếng nô đùa của bọn trẻ trên đường phố bên ngoài bờ tường đã dần biến mất. Bà xã ở trong nhà ru Nhuận Nhi ngủ… ngâm nga câu hát ru. Tôi âm thầm mặc áo khoác, mở cửa đi ra ngoài…”
Trời ạ! Cả lớp ngẩng đầu, há hốc miệng, ánh mắt kinh ngạc đổ dồn lên bục giảng nhìn người thầy đang ngẩng cao đầu, chắp hai tay sau lưng, đọc thuộc một bài tản văn khá dài. Thầy không cần nhìn sách cũng có thể đọc một cách rõ ràng, giọng vô cùng truyền cảm. Trong giọng nói của thầy có thơ, có họa, có tình, có cảnh, giống ảo ảnh mơ hồ, giống tiếng hát vang vọng. Thầy như đưa cả lớp tới hồ sen nhuộm ánh trăng bàng bạc đó. Trước mắt mọi người hiện ra hình ảnh bông sen lay động dưới ánh trăng, tỏa hương thơm dìu dịu.
Một điều kỳ diệu hơn, thầy Chương đã thể hiện được tâm trạng vi diệu rất khó phát giác của tác giả Chu Tự Thanh, đó là sự yên tĩnh mà ông theo đuổi trong suốt cuộc sống hiện thực ồn ào. Cả lớp say mê lắng nghe. Lúc này, thầy Chương cũng như chìm trong mộng cảnh do thầy tạo ra. Vẻ mặt nghiêm túc và thâm trầm của thầy có vẻ ôn hòa, khiến thầy như có sinh khí hơn.
“Tối nay, nếu có người ngắt sen, hoa sen ở đây cũng được coi là “quá đầu người”. Chỉ không thấy bóng nước lay động là không được. Điều này khiến tôi nhớ về Giang Nam. Mải chìm trong suy tư, đến lúc ngẩng đầu, tôi phát hiện đã đứng trước cửa nhà mình. Tôi lặng lẽ đẩy cửa đi vào, trong nhà không một tiếng động. Bà xã đã ngủ say từ lâu.” Thầy Chương đọc hết bài tản văn, không sai một chữ. Lớp học im phăng phắc, các bạn gần như nín thở, giọng nói truyền cảm của thầy vẫn phảng phất bên tai. Sau đó, không biết ai đó vỗ tay đốp đốp, tiếp theo, cả lớp cùng vỗ tay nhiệt liệt.
Thầy Chương lấy lại vẻ lạnh nhạt và nghiêm túc. Thầy tỏ ra thờ ơ trước tràng vỗ tay tán thưởng và khâm phục của đám học sinh, đến khóe miệng cũng không nhếch lên. Thái độ lạnh nhạt kỳ lạ của thầy khiến cả lớp càng ngạc nhiên trước việc thầy đọc thuộc bài tản văn một cách chính xác vừa rồi. Cả lớp không bảo nhau mà cùng nghĩ đến từ “đọc”, thầy không phải “đọc sách” mà là “đọc thuộc lòng”. Tiếng vỗ tay thưa dần.
Sau khi lớp học trở lại yên tĩnh, thầy Chương bắt đầu giới thiệu về tác giả. Về Chu Tự Thanh, thầy chỉ nói vài câu: “Chu Tự Thanh là giáo sư của Đại học Thanh Hoa kiêm viện trưởng Viện Văn học. Ông là học giả nổi tiếng, tác gia có ảnh hưởng lớn trên văn đàn, đồng thời cũng là người Trung Quốc có khí tiết. Thời tiểu học, các em đã được tiếp xúc với tản văn Màu xanh của ông. Thời cấp hai, các em từng học hai tản văn Bóng sáng sau lưng và Mùa xuân. Ngoài ra, phải kể đến các tác phẩm như Vội vàng, Truyện ký chọn bạn đời…”
“Thầy ơi, thầy có thể “đọc” tác phẩm Truyện ký chọn bạn đời không?”
Cả lớp quay đầu về nơi phát ra tiếng nói. Đó là một nam sinh cao gầy, cậu đỏ mặt, ánh mắt thách thức, giọng đầy mùi thuốc súng. Thế là các bạn lại đổ dồn ánh mắt về phía thầy Chương, trong đó không ít người có tâm trạng xem trò vui. Đám học sinh xuất sắc ở một ngôi trường xuất sắc, tật xấu lớn nhất là “tự cho mình là giỏi”, chúng ghét nhất thái độ ra vẻ ta đây của người khác. Thầy Chương bị chúng liệt vào hạng người “ra vẻ ta đây, khoe khoang tài năng”. Đọc thuộc lòng bài Ánh trăng bên hồ sen chẳng có gì là giỏi, nếu có thể đọc thuộc cả tác phẩm Truyện ký chọn bạn đời mà mọi người hầu như không biết mới được coi là có bản lĩnh thật sự. Các bạn đều ngẩng đầu, chờ câu trả lời của thầy Chương với tư thế của kẻ bàng quan. Chỉ có một người cúi thấp đầu, đó chính là Liễu Địch.
Đúng vậy, Liễu Địch không nhìn thầy Chương. Cô chưa từng đọc Truyện ký chọn bạn đời, thậm chí tên tác phẩm cũng là lần đầu tiên nghe tới. Một khi cô không biết tản văn này, cả lớp chắc chẳng có ai biết. Bắt thầy Chương đọc thuộc một tản văn không quá nổi tiếng, ít người biết đến trước mặt cả lớp là một thử thách lớn. Liễu Địch cảm thấy hơi lo cho thầy Chương. Có lẽ cô là học sinh duy nhất quan tâm đến thầy, bởi vì cô không hề có ý nghĩ thầy “ra vẻ ta đây” hay “khoe khoang tài năng”. Tuy nhiên, Liễu Địch không biết làm thế nào để ngăn cản sự việc đang diễn ra. Điều duy nhất cô có thể làm là bày tỏ kháng nghị bằng cách cúi đầu.
Sắc mặt thầy Chương vẫn vô cảm. “Tôi sẽ thử xem sao.” Câu nói của thầy khiến cả lớp nổi lên những tiếng bàn luận. Nhưng thầy nhanh chóng cất tiếng: “Bản thân là con cháu đích tôn, vì vậy chưa đến mười một tuổi, tôi đã được nghe nhắc đến chuyện chọn vợ…”
Thầy Chương đọc hết câu này đến câu khác. Thầy vẫn ngẩng cao đầu, chắp hai tay sau lưng, bộ dạng thong dong, từ tốn. Liễu Địch vô cùng kinh ngạc. Cô ngẩng đầu, phát hiện các bạn đang thì thầm bàn tán. Chúng cũng ngạc nhiên như cô.
Trên thực tế, không ai có thể chứng thực tản văn thầy Chương đang đọc thuộc lòng rốt cuộc có phải là Truyện ký chọn bạn đời hay không.
“Thưa thầy!” Một giọng nói vang lên cắt ngang lời thầy Chương. “Thầy có thể đọc Jane Eyre, tác phẩm tiêu biểu của Charlotte Bronte[4] không ạ?” Cậu nam sinh vừa lên tiếng nhanh chóng rút quyển sách từ cặp sách ra, đó chính là quyển Jane Eyre.
[4] Charlotte Bronte (1816-1855): nữ nhà văn người Anh, tác giả của những tiểu thuyết được xếp vào hàng kinh điển của văn học Anh.
“Chương mấy?” Thầy Chương tựa hồ không nhìn thấy hành động mang tính chất sỉ nhục đó.
“Chương một ạ!”
“Ngày hôm đó vốn không thể đi tản bộ. Không sai, buổi sáng chúng tôi đã dạo một tiếng đồng hồ trong rừng cây trụi lá…”
“Chương ba.”
“Trong ký ức của tôi, sự việc tiếp theo là tôi cảm thấy giống như tỉnh dậy sau một cơn ác mộng kinh hoàng…”
“Chương mười.”
“Cho đến bây giờ, tôi đã ghi chép tường tận một số chuyện nhỏ nhặt không đáng kể trong cuộc sống…”
“Chương hai mươi lăm.”
“Một tháng sau khi tỏ tình, mấy tiếng cuối cùng có thể đếm được trên đầu ngón tay…”
“Chương ba mươi mốt.”
“Cuối cùng tôi cũng tìm thấy nhà…”
Vẻ kinh ngạc của cậu nam sinh đã nói cho cả lớp biết thầy Chương không đọc sai một chữ.
“Chương ba mươi sáu.” Cậu nam sinh không chịu khuất phục, lại lên tiếng. “Thưa thầy, xin thầy hãy đọc câu tiếp sau câu này: “Là một nỗi đau khổ như thế nào mà người này tựa hồ hạ quyết tâm trì hoãn?”
Tay phải của thầy Chương đột nhiên cuộn lại thành nắm đấm, người thầy hơi lảo đảo. Thầy im lặng hồi lâu. Liễu Địch nhìn thấy giọt mồ hôi trên trán thầy.
Các bạn trầm mặc, trao đổi ánh mắt đắc ý và vui vẻ của kẻ chiến thắng. Liễu Địch thở dài. Không hiểu vì sao nhìn những gương mặt cười cợt trên nỗi đau của người khác, trong lòng cô hơi khó chịu.
Cuối cùng, thầy Chương cũng lên tiếng, thầy đọc câu tiếp theo bằng ngữ điệu đau đớn: “Hai mắt ông đã bị mù. Đúng vậy. Edward Rochester đã hoàn toàn trở thành người mù…”
Cậu nam sinh buông quyển sách, lặng lẽ tuyên bố sự thất bại của mình. Các bạn khác như bùng lòng hiếu kỳ, nhanh nhảu nên tên một loạt tác phẩm nổi tiếng chợt xuất hiện trong đầu, dù một số tác phẩm, bọn họ cùng lắm chỉ biết tên:
“Anna Karenina.”
“Hồng lâu mộng.”
“Phục sinh.”
“Hoàng Hà chảy về phía đông.”
“Ông già và biển cả.”[5]
[5] Anna Karenina, Phục sinh: hai tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn người Nga Lev Tolsoy. Hồng lâu mộng: tiểu thuyết nổi tiếng của Tào Tuyết Cần, Trung Quốc. Ông già và biển cả: tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn người Mỹ Ernest Hemingway. Hoàng Hà chảy về đông: tiểu thuyết của Lý Oa.
...
Cho đến khi không còn ai đứng dậy đề nghị thầy Chương đọc thuộc tác phẩm nữa, cuộc khảo vấn mới kết thúc. Cả lớp không ai thắng được người thầy đang lặng lẽ đứng trên bục giảng kia.
Cả lớp cuối cùng cùng bị chinh phục hoàn toàn. Vẻ bất mãn, ngông cuồng và thách thức trên mặt chúng hoàn toàn biến mất, thay vào đó là sự khâm phục và sùng bái. Lần đầu tiên trong đời, chúng biết thế nào là “sự uyên bác”, là cảm giác nhỏ bé và bi ai của con ếch ngồi dưới đáy giếng ngước nhìn bầu trời bao la.
Về phần Liễu Địch, cô biết thế nào là “thiên tài” thực sự.
Thế nhưng, trước vô số ánh mắt sùng bái, thầy Chương vẫn lạnh lùng, vô cảm. Thầy cất giọng bình thản: “Các em còn cần tôi đọc tác phẩm nào nữa không?”[6]
[6] Thầy Chương dùng từ “độc” có nghĩa nhìn vào sách hay văn bản để đọc.
“Đọc”? Lại là “đọc”? Những đứa trẻ mười sáu, mười bảy tuổi này, dù sùng bái một người đến mấy, cũng không thể chịu được sự ngông cuồng và miệt thị từ ngữ. Lớp học lại ồn ào. Trong âm thanh tạp loạn, một giọng nói trong trẻo vang lên: “Thưa thầy, tại sao thầy luôn gọi “thuộc lòng” thành “đọc”? Lẽ nào thầy lớn lên với kiểu “đọc” sách đó?”[7]
[7] Đáng lẽ thầy Chương phải dùng từ “bội” tức đọc thuộc lòng. “Độc” và “bội” là hai từ có cách đọc, cách viết và ý nghĩa hoàn toàn khác nhau.
Đây là lời chất vấn của bạn cùng bàn Liễu Địch. Câu nói này dẫn đến một loạt tiếng nhao nhao chỉ trích. Mọi người bàn luận, trách cứ thầy, như thể đó không phải là người thầy chúng sùng bái vài phút trước mà là một tên tội phạm.
Chỉ có Liễu Địch không lên tiếng. Đúng ra là cô im lặng từ đầu đến cuối, không đặt câu hỏi với thầy, cũng không lên tiếng phê bình thầy.
Về phần thầy Chương, trước sự công kích của đám học sinh, thầy vẫn trầm mặc, tựa hồ những lời trách cứ bên dưới không liên quan đến mình.
Liễu Địch ngước nhìn gương mặt vô cảm của thầy bằng ánh mắt nghi hoặc, cô muốn tìm ra nguyên nhân của sự trầm mặc đó. Trong đầu cô vụt qua một ý nghĩ. Liễu Địch giật mình bởi ý nghĩ này, cuốn sách Ngữ văn trong tay cô rơi bộp xuống đất. Cô so vai, cố gạt bỏ ý nghĩ đó nhưng nó càng lúc càng rõ ràng trong đầu cô. Thầy không mang giáo án, thầy dò dẫm đi từng bước lên bục giảng, thầy luôn gọi “thuộc lòng” là “đọc”, thầy đeo cặp kính đen...
Trời ạ! Liễu Địch đột nhiên cảm thấy ý nghĩ này vừa chân thực vừa sợ hãi. Tai cô ù ù, cô ra sức lắc đầu, dường như chỉ làm vậy mới có thể gạt bỏ suy nghĩ điên rồ đó. Cuối cùng, cô lại ngước nhìn gương mặt thầy. Thầy dường như không phải đối diện với vô số gương mặt sống sờ sờ mà đối diện với sa mạc mênh mông, thậm chí là đêm tối vô tận.
Tiếng ồn ào trong lớp học dần lắng xuống. Các bạn nhanh chóng phát hiện, bất kể chúng chỉ trích thế nào, cũng không thể chọc giận người thầy đang đứng trên bục giảng. Đến khi phòng học không còn một tiếng động, thầy Chương mới từ tốn nói: “Các em, tôi không nói sai, đúng là tôi đang “đọc”. Bởi vì tôi chỉ có thể “đọc” những cuốn sách đã in sâu trong đầu óc tôi.”
Cả lớp ngẩn ngơ. Liễu Địch là người đầu tiên có phản ứng. Trong đầu cô vang lên một câu nói, thầy “đọc” bằng ngữ điệu đau đớn: “Hai mắt ông đã bị mù. Đúng vậy, Adward Rochester đã hoàn toàn trở thành người mù...”
Liễu Địch không thể kiềm chế tiếng kêu khe khẽ: “Trời ơi!”
“Thực ra...” Thầy Chương nói tiếng. “Môn Văn ở cấp ba không cần thiết phải đọc mẫu. Cứ đọc ra rả theo sách, đến bản thân tôi cũng cảm thấy tẻ nhạt, vô vị. Ngữ văn là môn bồi dưỡng học sinh có cảm giác với ngôn từ và con chữ. Nếu biến nó trở thành tiết học mổ xẻ nội dung giáo dục tư tưởng, chi bằng ở bên dưới các em lén lút đọc tiểu thuyết còn hơn. Vì vậy, từ nay về sau tôi sẽ không đọc mẫu. Có điều...” Ngữ khí của thầy trở nên nặng nề. “Hôm nay, tôi phải đọc mẫu, tôi buộc phải làm vậy, dù có thể khiến các em hiểu nhầm tôi là kẻ ngông cuồng. Hy vọng các em hiểu lời tôi nói.” Ngừng một lúc, thầy nói thêm một câu: “Đúng rồi, từ nay về sau, trong tiết ngữ văn của tôi, các em có thể tự động đứng lên phát biểu, không cần giơ tay.”
Không cần giải thích thêm điều gì, người ngu xuẩn nhất cũng hiểu hàm ý của câu cuối cùng. Nếu là trong hoàn cảnh bình thường, câu nói đó chắc chắn sẽ nhận được tràng vỗ tay nhiệt liệt. Nhưng bây giờ, các bạn cúi đầu hổ thẹn, không dám nhìn gương mặt nhợt nhạt của thầy Chương. Liễu Địch chống tay lên trán, nỗi đau đớn cô chưa từng trải qua dấy lên trong lòng. Cô không cảm thấy hổ thẹn, ngược lại cô chỉ muốn khóc.
Chương 3
Chuông hết tiết học vang lên nhưng không ai rời khỏi chỗ.
Thầy Chương lại chậm rãi dò dẫm bước xuống bục giảng. Không biết một cái cây lau nhà ở đâu bỗng chắn ngang trước mặt thầy. Thầy Chương không tránh khỏi việc giẫm lên cây lau nhà.
“Cẩn thận!” Vài học sinh vội lao lên đỡ thầy, trước khi thầy bị ngã.
Nào ngờ vào giây phút đó, người thầy Chương run lên bần bật. Thầy hất tay đám học sinh, giống như gạt bỏ con rắn độc bám trên người.
“Tránh ra! Tôi không cần sự giúp đỡ!” Thầy Chương gằn giọng.
Sự việc xảy ra nhanh chóng và đột ngột. Mấy học sinh có lòng tốt ngây người đứng đó, nhất thời không rõ chuyện gì đang diễn ra. Chỉ trong giây lát, từ đáy lòng chúng dâng trào cảm giác bị tổn thương, chúng nghi hoặc nhìn nhau rồi lại quan sát gương mặt lạnh lẽo của thầy Chương. Cuối cùng, ai nấy về chỗ người nấy, sự hổ thẹn biến mất, ý nghĩ báo thù lại dấy lên. Chúng âm thầm chờ mong thầy Chương té ngã, cũng như mong đợi thầy bị mất mặt trong giờ học.
Chỉ có Liễu Địch lặng lẽ đi theo thầy Chương ra khỏi phòng học.
Đến đầu cầu thang, một học sinh không biết từ góc nào lao tới, xô vào thầy Chương. Liễu Địch chạy vội đến đỡ thầy. Lần này, Liễu Địch nắm tay thầy rất chặt, thầy Chương không hất tay cô ra.
“Cảm ơn em! Nhưng mời em đi cho!” Giọng thầy Chương vẫn lạnh lùng nhưng khá lịch sự. Có lẽ thầy không ngờ, người đang đỡ thầy là học sinh vừa bị thầy trách mắng.
“Để em đưa thầy về văn phòng.” Liễu Địch không buông tay.
“Không! Tôi không cần sự giúp đỡ.” Giọng của thầy đã trở nên nghiêm khắc, gần như mất kiên nhẫn. Vài học sinh từ trong phòng học thò đầu ra xem.
“Để em đưa thầy về văn phòng.” Liễu Địch vẫn không buông tay.
“Tôi nghĩ tôi đã nói rõ ràng rồi.” Thầy Chương cố kìm nén cơn giận dữ, nhưng thầy vẫn cao giọng: “Nếu em còn chưa nghe rõ, tôi có thể nói lại lần nữa, tôi không cần sự giúp đỡ. Bây giờ em đã nghe rõ chưa?”
“Em nghe rõ rồi.” Giọng của Liễu Địch rất bình tĩnh và kiên quyết. “Nhưng... xin thầy cho phép em đưa thầy về văn phòng.”
“Nếu tôi không cho phép em thì sao?” Giọng thầy Chương khàn khàn, lông mày nhíu chặt, tựa hồ chuẩn bị nổi nóng.
“Nếu thầy không cho phép, em sẽ buông tay ngay lập tức.” Liễu Địch không thấy run sợ trước thái độ của thầy, cô cất giọng trầm tĩnh, thẳng thắn và trong trẻo: “Có điều em sẽ đi theo thầy đến văn phòng. Trong khoảng thời gian đó, nếu thầy gặp phiền phức, em vẫn sẽ giúp thầy.”
“Sự giúp đỡ tốt nhất của em đối với tôi là tránh xa tôi ra.” Giọng của thầy Chương như đã bốc hỏa. “Tôi không cần người nào đóng vai Thượng đế ở bên cạnh tôi.”
“Em không phải Thượng đế, cũng chẳng muốn đóng vai gì.” Liễu Địch cất giọng không nhanh, không chậm, không cao, không thấp nhưng vang vọng khắp hành lang, truyền đến tai các bạn. “Em chỉ là học sinh của thầy. Với tư cách một học trò, em không muốn nhìn thấy người thầy em tôn kính và ngưỡng mộ bị xô ngã. Có lẽ thầy chịu đựng được điều này nhưng em không thể, giống như em không thể chịu đựng một tư tưởng cao quý bị người đời bôi nhọ.”
Thầy Chương đột nhiên trầm mặc.
Liễu Địch nhướng mắt, muốn nhìn gì đó từ gương mặt của thầy Chương. Đáng tiếc, thầy Chương vẫn giữ nguyên vẻ mặt vô cảm. Trên thực tế, gương mặt thầy từ đầu đến cuối không bộc lộ một sắc thái tình cảm nào, kể cả lúc thầy nổi giận.
Một lúc sau, thầy Chương lên tiếng: “Em là cô bé thích lo chuyện bao đồng.”
Không ngờ thầy nói ra câu này, Liễu Địch mỉm cười. “Không phải em thích lo chuyện bao đồng, đưa thầy về văn phòng tuyệt đối không phải chuyện bao đồng.”
Người thầy Chương khẽ run rẩy. Nếu không phải Liễu Địch đang đỡ tay thầy, cô sẽ không cảm nhận được sự chấn động này.
“Em rất cố chấp.” Sắc mặt thầy Chương vẫn vô cảm. “Đúng vậy, rất cố chấp, có thể nói là cố chấp như tôi.”
Liễu Địch lại cười. “Có lẽ vậy, nếu cũng được coi là cố chấp như thầy thì đó là vinh hạnh của em.”
“Vậy... ngoài cố chấp ra, em có thể đảm bảo em không phải là người nhiều lời?”
“Em xin dùng danh dự để đảm bảo.” Liễu Địch lên tiếng, giọng nói rất chân thành, kiên quyết và rõ ràng. “Em đảm bảo sẽ không hỏi một câu thừa thãi, sẽ không nói một câu tán gẫu không liên quan, sẽ không cùng người khác bàn tán bất cứ vấn đề gì liên quan đến thầy.”
Thầy Chương lặng lẽ thở dài. “Nếu em có thể giữ lời hứa, vậy thì... xin em...” Thầy mím môi. “Hãy đưa tôi về văn phòng.”
Chương 4
Kể từ hôm đó, tên của Liễu Địch gắn liền với thầy Chương.
Cô bắt đầu phụ trách việc đưa thầy Chương lên lớp và về văn phòng, đưa thầy tới bến xe buýt đợi xe mỗi khi tan học. Sau khi trở thành đại diện khối Văn, cô bắt đầu giúp thầy Chương phê bài tập làm văn vào mỗi buổi trưa. Sau kỳ thi giữa kỳ và cuối kỳ, cô còn tranh thủ thời gian rảnh rỗi thay thầy Chương viết những lời phân tích và nhận xét khách quan trên mỗi bài thi môn Ngữ văn. Cô trở thành người bận rộn nhất khối, người ra vào văn phòng của thầy Chương nhiều nhất.
Tuy nhiên, chỉ dựa vào những điều này, Liễu Địch vẫn chưa thể bước vào thế giới của thầy Chương. Thầy Chương không phải là người dễ tiếp cận. Thầy tránh xa tất cả mọi người, làm gì cũng lặng lẽ, một mình. Về điểm này, chỉ cần gặp thầy một lần, người ngu ngốc thế nào cũng có thể nhận ra. Thầy suốt ngày mặc bộ đồ có hai màu đen trắng đơn điệu, sống lưng luôn thẳng tắp, gương mặt vô cảm, hốc mắt trống không. Tất cả những điều này tạo thành hình ảnh lạnh lùng, vô tình, vô cảm không thay đổi. Vì vậy, dù có người muốn tiếp cận thầy và giúp đỡ thầy, cũng đều bị vẻ lạnh nhạt của thầy đánh bại.
Trong trường của một, hai người tốt bụng, vì sự đồng tình và thương hại, từng thử tìm cách giúp thầy Chương. Thầy đã từ chối bằng thái độ lịch sự nhưng vô cùng lạnh lùng, xóa bỏ hoàn toàn ý định của họ. Một thời gian sau, mọi người đều biết, “giúp đỡ” vĩnh viễn là từ cấm kỵ trong từ điển của thầy Chương. Do đó, không người nào dám nhắc đến từ đó trước mặt thầy, bao gồm cả Liễu Địch.
Có lẽ chỉ ở trên bục giảng, mọi người mới cảm thấy thầy Chương vẫn còn một chút sức sống và niềm hứng thú. Thầy Chương ở trên bục giảng khiến người khác có cảm nhận thầy đúng là “tài hoa xuất chúng”. Thầy quả nhiên không “đọc mẫu” thêm một lần nào nữa, nhưng cũng không còn người nào dám nghi ngờ khả năng thuộc lòng các tác phẩm nổi tiếng cổ kim, trong và ngoài nước của thầy.
Thầy luôn có cách nhìn độc đáo về các tác phẩm. Bài giảng của thầy vô cùng hấp dẫn. Những phân tích sâu sắc và cách trình bày vấn đề thấu đáo của thầy kích thích đám học sinh ở bên dưới thảo luận từ lớp học ra đến sân thể dục, từ trong trường học ra ngoài đường, từ hôm nay đến ngày mai.
Dần dần, vẻ lạnh nhạt của thầy Chương cũng ít nhiều thay đổi. Tuy rằng lúc học sinh cười ầm ầm, thầy vẫn điềm nhiên như không, nhưng vẻ mặt thầy đã trở nên ôn hòa hơn. Thỉnh thoảng thầy vẫn bộc lộ sự tán thưởng và vui mừng. Điều này khiến cả lớp cảm thấy thầy thêm gần gũi.
Một điều đáng quý là thầy không bao giờ gò ép hay hạn chế tư tưởng của học sinh, mà thường để những người “không cùng chính kiến” mạnh dạn bày tỏ quan điểm của mình.
Một lần, hiệu trưởng Cao và một thầy giáo khác trong tổ Văn tên Doãn Hồng dự tiết dạy của thầy Chương. Cả lớp tranh luận về văn phong của Lỗ Tấn[1] rất hăng say. Đặc biệt, ngôn từ của “bên phản đối” có vẻ rất kịch liệt, đến mức nhà văn Lỗ Tấn mà nghe được chắc sẽ đội mồ chui lên để tranh luận cùng chúng.
[1] Lỗ Tấn (1881-1936): nhà văn đặt nền móng cho văn chương hiện đại Trung Quốc, bậc thầy của thể loại truyện ngắn, nổi tiếng với ngòi bút hiện thực sắc lạnh và sâu cay.
Thầy Chương nghiêm túc lắng nghe ý kiến của hai bên, sau đó thầy đưa ra quan điểm của mình: “Có lẽ nhà văn Lỗ Tấn cũng không thích văn phong khô khan như vậy, nhưng ông buộc phải sử dụng nó. Bởi lối hành văn này do thời đại ép buộc. Nếu Lỗ Tấn không có tinh thần trách nhiệm với thời đại và dân tộc, cứ sống nhàn nhã, thoải mái như Hồ Thích[2] hay Lâm Ngữ Đường[3], có lẽ văn phong của ông không đến nỗi lạnh lùng, nghiêm túc như các em nhận xét. Nhưng ông làm vậy, trên văn đàn sẽ thiếu đi một người chiến sĩ dùng ngòi bút thay giáo gươm. Xin hỏi, ở thời đại nhiễm nhương đó, chúng ta cần một dũng sĩ đối mặt trực tiếp với nhân sinh thê lương hay cần văn nhân phong hoa tuyết nguyệt?”
[2] Hồ Thích (1891-1962): tên thật là Hồng Tân, nhà văn, nhà triết học Trung Quốc thời cận – hiện đại, người truyền bá chủ nghĩa thực dụng ở Trung Quốc, cho rằng thực tại chỉ là các mối quan hệ về cảm giác giữa con người, ông theo thuyết duy tâm chủ quan, tuyên truyền tư tưởng tự do cá nhân, dân chủ và khoa học.
[3] Lâm Ngữ Đường (1895-1976): nhà văn nổi tiếng Trung Quốc, người có công đầu trong việc giới thiệu văn hóa, văn học Trung Quốc ra thế giới.
Thầy Chương vừa dứt lời, hiệu trưởng Cao đập bàn khen hay, đám học sinh cũng cảm thấy nhận thức của mình trở nên sâu sắc hơn. Sau tiết học, thầy Doãn chỉ trích thầy Chương “thả lỏng học sinh” ngay trước mặt hiệu trưởng và cả lớp. Thầy Chương chỉ lạnh nhạt nói một câu: “Tôi cho rằng hạn chế tư tưởng là hành vi bóp chết tài năng.” Câu nói của thầy Chương nhận được tràng vỗ tay hưởng ứng nhiệt liệt, khiến thầy Doãn đỏ mặt tức giận.
Sau sự kiện đó, thầy Doãn hết sức dèm pha, bôi nhọ quan điểm của thầy Chương, mọi nơi, mọi lúc. Nhưng thầy ta không thể phủ nhận sự thật, trong mỗi kỳ thi, dù thầy ta có giở trò với bài thi như thế nào, thành tích trung bình của lớp 1 bao giờ cũng cao hơn lớp 2 một, hai điểm. Các thầy cô đều đánh giá học sinh lớp 1 rất có năng lực, các em đều có khả năng cảm thụ ngôn từ rất tốt.
Sau khi hồi chuông hết tiết vang lên, mọi vẻ ôn hòa, tán thưởng, vui vẻ trên gương mặt thầy Chương hoàn toàn biến mất như có phép thuật. Học sinh trong lớp không thể chấp nhận sự thay đổi bất thình lình đó, giống như không thể chấp nhận chuyện đang ở trên thiên đường rơi một phát xuống nơi thiêu xác đầy khói lửa. Học sinh cấp ba mười bảy, mười tám tuổi, không ai không sùng bái tri thức và học vấn, nhưng bọn họ càng hy vọng thầy giáo của mình có tình người hơn. Về phần thầy Chương, khi thầy nhắm mắt giảng bài, tình người thể hiện rất rõ. Khi thầy mở mắt, tình người bay đi một nửa. Đến khi thầy rời bục giảng, tình người biến mất hoàn toàn. Hơn nữa, hành vi cự tuyệt sự giúp đỡ trong ngày đầu tiên lên lớp của thầy đã khiến lòng tự trọng của đám học sinh bị tổn thương. Vì vậy, chúng không có cách nào có cảm tình với người thầy không có tình người như vậy. Chúng chỉ hoan nghênh thầy Chương trong giờ học, còn sau khi tan học, chúng đối với thầy luôn “kính nhi viễn chi”[4].
[4] Câu nói của Khổng Tử trong Luận ngữ, có nghĩa là bề ngoài tỏ ra kính nể một người nào đó nhưng trên thực tế không muốn tiếp cận, gần gũi với người đó.
Về phía các đồng nghiệp, thầy Chương càng không tránh khỏi việc bị đối xử lạnh nhạt. Đồng nghiệp thường đố kỵ nhau, tài hoa của thầy Chương đủ khiến thầy trở thành “oan gia” của tất cả các thầy cô giáo trong tổ Văn. Hơn nữa, các phần tử trí thức làm sao có thể chịu nổi thái độ “tự cho mình là thanh cao”, chẳng bận tâm đến người khác của một người mù?
Do đó, các thầy cô giáo khác cũng trở thành “oan gia” của thầy Chương. Nhưng thầy Chương dường như không để ý xem thầy có bao nhiêu “oan gia”, bởi thầy không qua lại với bất cứ người nào. Việc thầy một mình một văn phòng là minh chứng rõ rệt nhất. Bất kể các “oan gia” bàn ra tán vào ra sao, thầy Chương cũng không hề có phản ứng. Cuối cùng, bọn họ coi thầy như không tồn tại.
Một thầy giáo luôn tránh xa tất cả mọi người nhưng lại cho phép Liễu Địch ở bên cạnh khiến ai nấy đều trố mắt kinh ngạc. Bàn đến nguyên nhân của việc đó trong lúc tán gẫu, mọi người đều kết luận: “Có lẽ do Liễu Địch chăm sóc thầy ta quá chu đáo.”
Quả thực Liễu Địch chăm sóc thầy Chương rất chu đáo. Ngày thứ ba sau khi nhập học, cô phát hiện bình nước giữ nhiệt trong văn phòng thầy Chương thường không có gì, thế là sáng sớm hôm sau, cô đi lấy nước nóng cho thầy. Hai ngày đầu, bình nước vẫn còn nguyên. Đến ngày thứ ba, Liễu Địch phát hiện một gói trà ướp hoa bên cạnh bình nước. Cô mở nắp, nước trong bình đã cạn sạch. Dần dần, Liễu Địch nhận ra thầy Chương nghiện trà như người ta nghiện thuốc lá. Thế là sau khi đi lấy nước nóng, cô lại chủ động pha một cốc trà cho thầy Chương. Tất cả những việc này, Liễu Địch không nhắc một từ, thầy Chương cũng không bao giờ hỏi đến.
Đến kỳ dọn dẹp vệ sinh, Liễu Địch lại một mình tới văn phòng của thầy Chương quét dọn. Nhà trường cử thêm người giúp đỡ nhưng cô đều từ chối, bởi cô biết thầy Chương thích sự yên tĩnh. Cô nhẹ nhàng quét dọn phòng, lau bàn làm việc và cửa kính, cố gắng hết sức để không phát ra tiếng động.
Thầy Chương chỉ mím môi, chống tay lên đầu, ngồi trầm tư, không hỏi han Liễu Địch một câu. Trầm tư là sắc thái duy nhất trên gương mặt thầy. Liễu Địch biết, một khi rơi vào trạng thái trầm tư, thầy Chương sẽ ngồi bất động mấy tiếng đồng hồ, không người nào có thể cắt đứt mạch suy nghĩ của thầy. Vì vậy, sau khi kết thúc công việc, Liễu Địch âm thầm rời khỏi văn phòng.
Một tháng sau, thầy Chương đột nhiên nói với Liễu Địch: “Xin em hãy đến phòng Tài vụ lĩnh lương giúp tôi.” Không hiểu tại sao, khi thầy Chương nói đến từ “giúp”, Liễu Địch xúc động đến phát khóc.
Xem bảng tiền lương, Liễu Địch mới biết thầy Chương là giáo viên dạy thay, nói trắng ra là người dạy hợp đồng, không phải nhân viên chính thức. Trong lòng cô nổi lên sự phẫn nộ, bất bình, cứ như việc này không phải sỉ nhục thầy Chương mà là sỉ nhục chính cô vậy. Nhưng cô có thể làm gì? Một trường điểm chịu để người mù dạy học vốn đã là một sự khoan dung. Liễu Địch chỉ còn cách giao lại khoản tiền lương ít ỏi cho thầy Chương. Thầy nhận tiền rồi lập tức bỏ vào túi áo. Kể từ lần đó, hằng tháng, không đợi thầy Chương nhắc nhở, Liễu Địch đều chủ động lĩnh lương giúp thầy.
Không chỉ có chuyện lĩnh lương, Liễu Địch còn thay thầy Chương tham gia các cuộc họp giáo viên. Sau đó, cô truyền đạt lại nội dung cuộc họp với thầy. Có lúc Liễu Địch mang về một số bản khai. Thầy Chương đọc, Liễu Địch điền vào. Trong ô “học lực”, thầy Chương toàn bảo cô điền “tốt nghiệp phổ thông trung học”.
Liễu Địch không tin một người học rộng hiểu nhiều, tài hoa xuất chúng như thầy Chương mới chỉ học hết cấp ba. Cô còn nhớ học kỳ hai năm lớp 10, một đoàn đại biểu của Pháp đến thăm trường, đúng lúc người phiên dịch có việc đột xuất không thể có mặt, thầy Chương đã nói chuyện bằng tiếp Pháp trôi chảy, hoàn thành xuất sắc công việc phiên dịch, nhận được sự tán thưởng của đoàn khách người Pháp. Lẽ nào tiếng Pháp của thầy cũng học từ thời cấp ba? Liễu Địch vô cùng hiếu kỳ, nhưng nhớ đến lời cam kết, cô đành nghiến răng, kìm nén nghi vấn trong lòng.
Khi mùa đông đến, thầy Chương bị nhiễm virus cảm cúm, thế là Liễu Địch mang đến cho thầy một hộp thuốc cảm. “Một ngày ba lần, mỗi lần hai viên.” Liễu Địch không bao giờ nhắc đến từ “cho” hay “tặng”.
Thầy Chương nhận hộp thuốc, lặng lẽ lấy ra hai viên, bỏ vào miệng. Rồi thầy Chương ho khù khụ, thậm chí không thể lên lớp giảng bài. Buổi trưa, Liễu Địch lấy một gói thuốc bột chữa ho, pha vào cốc trà cho thầy. Lúc phê bài tập làm văn, thầy Chương phát hiện “nước trà” không đúng vị, thế là thầy không thưởng thức từng ngụm nhỏ như thường lệ mà uống một hơi hết sạch. Nhìn thầy không do dự uống hết cốc “trà”, Liễu Địch quên cả việc đọc bài văn. Một sự cảm động khó diễn tả thành lời trào dâng trong lòng khiến viền mắt cô ngân ngấn nước. Cô đột nhiên nhận ra một sự thật: thầy Chương tin tưởng cô, chỉ tin tưởng một mình cô.
Cứ thế, Liễu Địch trở thành người duy nhất thầy Chương tín nhiệm ở trường. Thầy chỉ nhận sự giúp đỡ của một mình Liễu Địch. Phàm là những việc ngoài khả năng, thầy sẽ không bảo cô làm. Thầy không phản đối, cũng không kiêng dè người khác đặt tên Liễu Địch cạnh tên thầy. Thậm chí, cô trở thành cầu nối duy nhất giữa thầy và thế giới bên ngoài. Những người khác muốn tìm thầy Chương phải thông qua cô.
Nhiều lúc Liễu Địch tự hỏi: “Tại sao thầy Chương lại tin tưởng mình như vậy?” Cô biết, không phải vì cô chăm sóc thầy chu đáo, bởi đối với người khác, thầy không cho họ cơ hội chăm sóc thầy. Có lẽ bởi cô luôn giữ lời hứa lúc ban đầu với thầy. Đúng là như vậy, dù trong lòng luôn đầy nghi hoặc, cô cũng không bao giờ hỏi một câu liên quan đến vấn đề riêng tư của thầy, càng không nói chuyện với người khác về thầy, Liễu Địch luôn dùng nụ cười để ứng phó.
Thật ra, Liễu Địch chẳng có gì để nói. Mặc dù cô thường xuyên tiếp xúc với thầy Chương nhưng ngoài những câu cần thiết, thầy không nói một lời thừa. Liễu Địch chưa gặp giáo viên nào nói “một từ đáng ngàn vàng” như thầy Chương. Trong công việc, nếu có thể dùng một từ đã biểu đạt rõ vấn đề, thầy tuyệt đối không nói từ thứ hai. Về hoàn cảnh của thầy, Liễu Địch cũng không biết nhiều hơn người khác, bởi cô không thích chủ động tìm hiểu chuyện riêng tư của người khác. Cô biết, xé toạc vết thương trong tâm hồn một người là việc làm tàn nhẫn. Có lẽ thầy Chương cũng vì muốn bảo vệ bản thân nên mới biến mình thành một tảng băng gai góc. Liễu Địch có thể tiến lại gần tảng băng nhưng cô sẽ không đụng vào, càng không tìm cách xâm nhập hay làm tan chảy tảng băng đó.
Khi mùa xuân đến, Liễu Địch đặt một chậu hoa nhài nho nhỏ lên bệ cửa sổ trong văn phòng thầy Chương. Đến mùa hè, cây hoa nhài lớn với tốc độ đáng ngạc nhiên, nở những bông hoa trắng muốt. Thế là cốc trà của thầy Chương bắt đầu tỏa hương nhài dìu dịu. Mỗi lần nhìn thấy thầy Chương trầm ngâm suy nghĩ trong căn phòng đầy hương thơm thanh nhã, Liễu Địch đều cảm thấy dưới lớp vỏ bọc lạnh lùng, vô tình của thầy, nhất định là những tình cảm mà thầy không bộc lộ với bất cứ ai.
Đúng vậy, thầy Chương là người giàu tình cảm nhưng không biểu lộ ra ngoài. Liễu Địch đã lĩnh hội sâu sắc điều này trong quá trình đưa thầy ra bến xe buýt và cùng thầy đợi xe mỗi ngày.
Tiễn thầy Chương ra bến xe là việc làm thanh thản và dễ chịu nhất của Liễu Địch trong một ngày. Khi chuông báo tan học vang lên, Liễu Địch nhanh chóng thu dọn sách vở, cho vào cặp. Cô là người đầu tiên lao ra khỏi phòng học, chạy một mạch đến văn phòng của thầy Chương.
Mỗi lần tới văn phòng của thầy Chương, Liễu Địch đều chạy như bay, bản thân cô cũng không hiểu tại sao cô phải vội vàng như vậy. Sau đó, cô nhẹ nhàng gõ cửa mà không vào luôn. Đợi một lát, thầy Chương sẽ cầm cặp da màu đen đi ra ngoài. Liễu Địch dắt tay thầy Chương, hai thầy trò cùng rời khỏi trường, đi về phía trạm xe buýt số 2.
Đoạn đường từ trường học tới trạm xe buýt rất ngắn, chỉ khoảng một trăm mét. Nhưng Liễu Địch cảm thấy con đường dài một trăm mét này tràn ngập không khí ấm áp và dễ chịu, khó diễn tả thành lời.
Ánh hoàng hôn kéo dài hình bóng của hai thầy trò. Cơn gió mát rượi, thỉnh thoảng còn mang theo mùi thơm của thức ăn khiến người khác thèm đến chảy nước miếng. Từng tốp học sinh đeo cặp sách đi ngang qua hai thầy trò, cười nói vui vẻ. Tan học là thời khắc vui vẻ nhất của học siinh. Lặng lẽ nghe tiếng bước chân đều đặn trên vỉa hè, Liễu Địch cảm thấy vô cùng thư thái. Bao mệt nhọc của một ngày hoàn toàn tan biến trên đoạn đường ngắn.
Trạm xe buýt số 2 là bến xe rất nhỏ. Ở đây không có mái che, cũng không có ghế ngồi, chỉ có một tấm biển báo bằng sắt cô độc đứng trên vỉa hè. Bên cạnh biển báo là cây dương liễu rất lớn, cành lá mềm mại rủ xuống mặt đất. Vào mùa xuân, trên cành cây mọc đầy chồi non, non đến mức có thể nhỏ nước, nhìn từ xa chỉ thấy một màu xanh lục dịu dàng. Cách biển báo không xa là một bồn hoa nhỏ, Liễu Địch thường đỡ thầy Chương ngồi ở bệ xi măng của bồn hoa nghỉ ngơi. Trong bồn hoa trồng mấy khóm đinh hương. Khi chồi non của cây dương liễu nhú thành những chiếc lá màu xanh lục, đinh hương cũng nở từng đóa hoa tím. Chúng như vô số những ngôi sao nhỏ màu tím đan xen giữa những phiến lá hình trái tim.
Liễu Địch luôn tin vào truyền thuyết đẹp đẽ về cây đinh hương, do đó, cô thành kính tìm kiếm bông hoa đinh hương năm cánh. Nếu tìm được, cô sẽ lén bỏ vào chiếc cặp da của thầy Chương, hy vọng nó có thể mang hạnh phúc đến cho thầy. Còn thầy Chương thường ngồi im lặng ở đó, bứt một ngọn cỏ đưa lên mũi, ngửi mùi hương pha trộn mùi bùn đất của lá cỏ, dần chìm vào trạng thái trầm tư.
Mùa hè là mùa mưa. Sáng sớm, Liễu Địch đều theo dõi bản tin dự báo thời tiết. Nếu dự báo có mưa, cô sẽ mang theo hai cái áo mưa. Một điều trùng hợp là thầy Chương cũng thường cầm theo hai cái ô. Mỗi lúc như vậy, hai thầy trò mỗi người mặc một cái áo mưa và cầm ô đi ra bến xe.
Nếu gặp ngày mưa bão, thầy Chương và Liễu Địch tới mái hiên ở gần đó trú mưa. Liễu Địch sợ nhất là sấm sét. Một lần, tiếng sấm kinh thiên động địa đột nhiên vang lên bên tai, cô kinh hãi hét lên một tiếng, vùi đầu vào lòng thầy Chương, ôm chặt thắt lưng thầy, tựa hồ thầy trở thành thần hộ vệ của cô.
Người thầy Chương run run nhưng thầy không hề né tránh, cũng không giơ tay ôm Liễu Địch. Thầy chỉ nói một câu bâng quơ: “Đừng sợ, Liễu Địch. Là ông trời đang gầm gừ mà thôi. Thế gian này có quá nhiều chuyện bất bình, ông trời thỉnh thoảng cũng không vừa mắt.”
Giọng nói của thầy vẫn lạnh nhạt và bình tĩnh nhưng lại có sức mạnh an ủi rất lớn. Liễu Địch ngẩng đầu, lúc này cô mới ý thức được mình đang ôm chặt người thầy. Cô đỏ bừng mặt, lập tức buông tay. Liễu Địch muốn lên tiếng giải thích nhưng thầy Chương lắc đầu, tựa hồ “nhìn” rõ sự quẫn bách và bối rối của cô. Liễu Địch hoảng hốt nhìn thầy Chương. Gương mặt thầy không có bất cứ biểu cảm nào, dường như không bị tiếng sấm hay bất cứ nhân tố nào khác làm nhiễu loạn.
Đến mùa thu, cây dương liễu cao lớn bắt đầu rụng lá, đinh hương cũng úa tàn. Đầu tiên, những phiến lá mỏng rơi xuống lối đi, phủ đầy nền xi măng. Con người giẫm lên những chiếc lá rụng, phát ra những tiếng lạo xạo. Thầy Chương thường dừng bước, chăm chú lắng nghe bản nhạc lá rụng dưới chân. Ánh hoàng hôn nhuộm một màu vàng óng lên tóc thầy, cùng với lá vàng dưới mặt đất, tạo thành hình ảnh bi tráng đầy ấn tượng.
Có lần, thầy Chương nhặt một phiến lá dưới đất, nhẹ nhàng đưa lên mũi ngửi. Một bé gái tầm sáu, bảy tuổi chạy tới, hiếu kỳ hỏi thầy: “Chú ơi, lá rụng có thơm không ạ?”
Liễu Địch chưa từng nhìn thấy thầy Chương có biểu hiện ôn hòa như vậy. Thầy ngồi xổm xuống, tay lần lần đặt lên hai vai bé gái, cất giọng dịu dàng: “Lá không thơm nhưng mỗi chiếc lá rụng đều có mùi của mặt trời.”
Trong lòng Liễu Địch đột nhiên trào dâng sự cảm động. Cổ họng cô tắc nghẹn, viền mắt ươn ướt. Không biết bao lâu sau, cô sờ lên khóe mắt, mới phát hiện nơi đó có giọt lệ.
Mùa đông, gió lạnh từ phương Bắc thổi tới khiến cả thành phố chìm trong giá rét. Cây dương liễu như bị đông cứng, khóm đinh hương cũng vậy, đến tấm biển sắt của trạm xe buýt cũng như bị đông cứng. Liễu Địch không ngừng xoa hai tay, giậm chân để lấy hơi ấm. Thầy Chương chỉ mặc một áo khoác màu đen nhưng thầy thường vô tình hay hữu ý đứng trước Liễu Địch để chắn gió lạnh cho cô.
Hai thầy trò thích nhất vẫn là những ngày tuyết rơi, mặc dù lúc đó người đợi xe buýt rất đông, trên xe buýt chen chúc, chật chội. Hoa tuyết trắng rơi xuống, che đi mọi thứ xấu xí, khó coi khiến thế giới trở nên thuần khiết và đẹp đẽ. Liễu Địch thích ngắm cảnh hoa tuyết bay bay dưới ngọn đèn đường, trông giống những con đom đóm của ngày hè. Còn thầy Chương đứng bất động ở đó, để mặc hoa tuyết rơi đầy trên áo khoác đen, tạo thành một mảng trắng xóa. Thỉnh thoảng thầy tháo găng tay, thò cả hai tay vào lớp tuyết dày, một lúc lâu mới rút ra, ngón tay của thầy lạnh cóng đến ửng đỏ.
Đúng vậy, quãng thời gian từ trường đến trạm xe buýt là khoảnh khắc đẹp đẽ, đợi xe buýt cũng là khoảnh khắc đẹp đẽ, đáng nhớ. Mặc dù trong khoảng thời gian đó, hai thầy trò hầu như không trò chuyện, nhưng họ đều cảm thấy một sự ấm áp không thể nói thành lời. Chỉ có những lúc như vậy, thầy Chương mới vô tình để lộ tình cảm mà thầy cố ý che giấu bấy lâu. Mỗi khi thầy bộc lộ tình cảm, Liễu Địch đều cảm thấy trái tim cô xích lại gần thầy thêm một chút.
Tuy nhiên, xe buýt trước sau gì cũng đến. Mỗi khi xe buýt số 2 tới nơi, bao giờ thầy Chương cũng phát hiện ra trước Liễu Địch. Thầy có thể nhận ra âm thanh của các loại ô tô, không bao giờ nhầm lẫn. Liễu Địch đành đỡ thầy lên xe. Cánh cửa xe buýt khép lại, mang theo tâm tình dễ chịu và thanh thản, để lại một khoảng trống khiến Liễu Địch thẫn thờ hồi lâu.
Chương 6
Lại một buổi trưa nóng bức.
Liễu Địch ngồi đối diện với thầy Chương, trong tay cô là một quyển bài tập làm văn chưa mở ra. Đây là quyển vở duy nhất chưa đọc và nhận xét.
Liễu Địch ngập ngừng, do dự, trong đầu cô lặp đi lặp lại câu nói: “Về đề tài: “Thầy giáo của tôi”, chắc các em đã viết nhiều rồi. Nhưng học sinh tiểu học và học sinh cấp ba viết không giống nhau. Tôi hy vọng các em viết những điều mới mẻ, thể hiện trình độ của học sinh cấp ba. Tôi chỉ đưa ra một yêu cầu: trong bài văn này, các em không được viết về tôi. Nếu vi phạm yêu cầu đó, xin lỗi, tôi chỉ có thể cho 0 điểm.”
Đây là câu nói của thầy Chương khi ra đề tài. Câu nói này quanh quẩn trong đầu Liễu Địch suốt một tuần liền. Cả buổi trưa hôm nay, trong đầu cô chỉ vang vọng câu nói của thầy.
Từ trước đến nay, thầy Chương luôn nói một là một, hai là hai, vì vậy, trong tất cả các bài văn cô vừa đọc, không bạn nào dám “phạm quy”. Lòng bàn tay Liễu Địch rịn mồ hôi. Cô không có dũng khí mở quyển vở đang cầm trên tay.
“Liễu Địch!” Thầy Chương lên tiếng nhắc nhở. “Nếu tôi nhớ không nhầm, trưa hôm nay em mới chỉ đọc chín bài văn?”
Cả lớp có năm mươi học sinh, mỗi ngày cô cần đọc mười bài để thầy Chương nhận xét, chấm điểm. Đây là luật bất thành văn giữa Liễu Địch và thầy. Cô đưa mắt liếc thầy Chương. Gương mặt thầy vẫn nghiêm túc, lạnh lùng, có một vẻ uy lực không thể kháng cự và sự tôn nghiêm không dễ xâm phạm. Haizz... Chuyện gì đến rồi cũng sẽ đến, ai bảo cô... Liễu Địch cắn môi, hít một hơi sâu rồi mở quyển bài tập.
“Câu chuyện về một người thầy.” Cuối cùng, Liễu Địch cũng đọc thành tiếng. “Thầy Chương Ngọc là thầy giáo dạy Ngữ văn của tôi...”
Thầy Chương sửng sốt, sống lưng thầy bất giác cứng đờ, cặp lông mày của thầy bắt đầu nhíu chặt, cơ mặt cứng lại. “Đừng đọc nữa, 0 điểm!” Thầy cất giọng nghiêm nghị và đanh thép.
Liễu Địch ngừng một, hai giây rồi đọc tiếp: “Thầy dạy tôi tròn hai năm...”
“0 điểm!” Thầy Chương lặp lại một lần nữa, giọng thầy lạnh lẽo đến cực điểm. Thầy mím chặt môi, lồng ngực phập phồng, tựa hồ đang cố gắng đè nén cơn giận dữ trong lòng.
Liễu Địch vẫn cất giọng đều đều: “Lúc mới nhập học, tôi không ngờ thầy là một người khiếm thị...”
“Được rồi, em đừng đọc nữa!” Thầy Chương đứng bật dậy như bị điện giật. Sắc mặt thầy tái mét, lồng ngực phập phồng, thầy thở dốc. “0 điểm! 0 điểm! 0 điểm!” Thầy liên tiếp bật ra ba từ “0 điểm”, giọng mỗi lúc một cao, mỗi từ như quả đạn pháo bắn về phía Liễu Địch, không chút nể tình.
Liễu Địch bắt đầu thấy sợ hãi. Cô không ngờ thầy Chương lại tức giận đến vậy. Cô chưa từng chứng kiến thầy nổi nóng hay giận dữ. Trong ký ức của cô, thầy Chương chưa bao giờ cao giọng, thầy luôn khiến người khác có cảm giác thầy lạnh lùng như núi băng ngàn năm không tan chảy. Ai có thể ngờ núi băng này cũng có lúc phun trào ngọn lửa? Liễu Địch cảm thấy trái tim cô như sắp nhảy ra khỏi lồng ngực. Cô đấu tranh tư tưởng trong vài giây, cuối cùng vẫn đọc tiếp: “Tôi càng không ngờ thầy lại mang đến cho tôi sự chấn động và ảnh hưởng vô cùng to lớn. Thầy đã để lại dấu ấn vĩnh viễn không phai mờ trong lòng tôi...”
Đọc xong câu này, Liễu Địch mềm nhũn người, tựa vào ghế. Cô không còn can đảm đọc tiếp. Chỉ đọc một đoạn mở đầu đã làm tiêu hao hết dũng khí tích tụ suốt một tuần của cô.
Thầy Chương đột nhiên ngẩn người, như thể có một cây gậy phép thuật khiến thầy hóa đá. Thầy bất động vài giây, vẻ mặt giận dữ từ từ biến mất. Sắc mặt thầy trắng bệch.
“Liễu Địch.” Thầy lên tiếng, giọng nói bình tĩnh như mọi khi. “Đây là bài văn của em, đúng không?”
“Vâng ạ...” Liễu Địch nói nhỏ. Đây là lần đầu tiên thầy Chương hỏi người viết bài văn.
“Vậy thì...” Thầy Chương từ từ ngồi xuống. “Em có thể đọc hết bài văn đó.”
Trong lòng Liễu Địch đột nhiên dấy lên sự cảm động khó tả. Cô lờ mờ hiểu ra, lúc đưa yêu cầu làm bài, thầy Chương cũng có nỗi khổ riêng. Vì vậy, vào thời khắc này, cô thật sự cảm nhận được thầy phải có dũng khí và nghị lực lớn đến mức nào mới có thể đưa ra quyết định đó. Liễu Địch mở quyển tập làm văn, cố đè nén tâm trạng xúc động, từ tốn đọc tiếp.
Bài văn rất dài, Liễu Địch gần như thổ lộ mọi điều kìm nén trong lòng cô suốt hai năm qua. Cô kể về tiết dạy đầu tiên của thầy Chương và lần đầu tiếp xúc với thầy sau tiết học. Cô viết, trong buổi chào cờ hát quốc ca, hơn một nghìn thầy trò của toàn trường, chỉ có thầy Chương hát theo tiếng nhạc. Cô đề cập đến chuyện thầy Chương nhận xét bài văn, cũng viết cảm nhận của cô trong lúc tiễn thầy ra trạm xe buýt.
Thầy Chương lặng lẽ lắng nghe, thầy không nói một lời, gương mặt thâm trầm chẳng có bất cứ biểu hiện nào. Cuối cùng, Liễu Địch cũng đọc đến đoạn kết của bài văn: “Đây chính là thầy Chương. Thầy là một câu đố, một câu đố không có lời giải đáp. Tuy tôi chưa bao giờ thử tìm cách giải câu đố này nhưng tôi vẫn có nhiều nghi vấn...” Liễu Địch bỗng dừng lại, ngập ngừng nhìn thầy Chương, không đọc tiếp.
“Em cứ đọc đi, đừng sợ chạm đến vết thương trong lòng tôi.” Thầy Chương lên tiếng.
Trái tim Liễu Địch rung lên một nhịp. Tuy đôi mắt mù lòa nhưng thầy Chương có thể “nhìn” thấu tâm tư của cô. Điều này khiến cô kinh ngạc và chấn động. Cô cất giọng trong trẻo: “Tại sao thầy lại bị mù? Thầy có người thân không? Tại sao thầy có kiến thức sâu rộng nhưng lại chỉ tốt nghiệp phổ thông trung học? Thầy gặp tai họa như thế nào thì trên gương mặt thầy mới vĩnh viễn mất đi nụ cười... Tôi không tìm được câu trả lời, cũng không rõ sự tò mò của tôi liệu có gây thương tổn cho thầy? Có lẽ cũng vì nguyên nhân này, thầy Chương mới tạo ra lớp vỏ bọc lạnh lùng. Nhưng dù thế nào tôi cũng cho rằng tôi đã gặp được một người thầy xuất sắc nhất. Mỗi lần tiếp xúc với thầy, tôi luôn phát hiện ra điều mới mẻ trong con người thầy, đó là những thứ thuộc phương diện tình cảm và tư tưởng. Điều đó luôn khiến tôi kinh ngạc. Thầy sở hữu những thứ mà người khác khó lòng đạt được, đó chính là tư tưởng vĩ đại và tinh thần cao thượng. Tôi chỉ có thể tổng kết con người thầy như sau: Câu chuyện quá khứ trong cuộc đời thầy lúc ẩn lúc hiện như đom đóm phía xa; tư tưởng của thầy sâu xa như núi cao rừng rậm; thế giới tình cảm của thầy như đại dương cuộn trào; tâm hồn thầy giống mỏ vàng trù phú...”
Liễu Địch đặt quyển bài tập xuống, thở một hơi nhẹ nhõm. Cô nhướng mắt nhìn thầy Chương, muốn thấy biểu hiện khác lạ của thầy, nhưng gương mặt thầy vẫn vô cảm, giống như tờ giấy trắng tinh.
Văn phòng vô cùng yên tĩnh, chỉ có chậu hoa nhài lặng lẽ tỏa hương thơm dìu dịu khắp không gian.
Một lúc lâu sau, thầy Chương mới lên tiếng: “Em thật sự không muốn giải câu đố này? Không, tôi biết em rất muốn. Chỉ là em giữ lời hứa của mình, không muốn động đến vết thương trong lòng tôi nên mới kìm nén sự hiếu kỳ suốt hai năm. Đã hai năm trôi qua, quả thật đã làm khó em rồi.” Thầy Chương nhíu mày, khẽ buông tiếng thở dài. “Em muốn biết chuyện liên quan đến tôi, đúng không?” Thầy cất giọng nhẹ nhàng như đang hỏi Liễu Địch, cũng là hỏi bản thân mình.
“Được.” Sau đó thầy hạ quyết tâm. Thầy gật đầu, cất giọng vừa lạnh nhạt vừa kiên quyết: “Tôi sẽ thỏa mãn nguyện vọng của em, kể cho em nghe câu chuyện cuộc đời tôi.”
Liễu Địch giật mình, hai mắt mở to, hốt hoảng nhìn thầy Chương. Điều này quá bất ngờ, khiến cô không thể tin nổi.
“Thưa thầy...” Liễu Địch lắp bắp. “Thầy không cần kể... Nếu thầy cảm thấy...”
Thầy Chương xua tay, ra hiệu cho cô im lặng. Thầy cầm cốc trà, chậm rãi uống một ngụm như muốn thưởng thức vị đắng chát của trà. Sau đó, thầy bắt đầu kể câu chuyện cuộc đời mình. Giọng thầy rất bình thản, tự nhiên như đang trần thuật sự việc không liên quan đến bản thân:
“Tôi không phải là người ở đây, quê tôi ở Tô Châu. Bố tôi là giáo viên mỹ thuật của trường phổ thông trung học. Vì không thể thực hiện ước mơ trở thành họa sĩ, ông đã gửi gắm mọi niềm hy vọng vào tôi. Có lẽ nhờ được thừa hưởng gien di truyền từ bố nên ngay từ khi còn nhỏ, tôi đã rất nhạy cảm với màu sắc và ánh sáng, cũng luyện được đôi mắt biết quan sát vạn vật. Tuy nhiên, tôi lại say mê văn chương một cách điên cuồng. Nhờ khả năng thiên phú về mỹ thuật, tôi rất giỏi quan sát và nắm bắt chi tiết của cuộc sống, có thể nhanh chóng đúc kết yếu tố tôi cần để lập nên cấu tứ và sáng tác. Nét đẹp và sự nhiệt tình đối với cuộc sống của các nghệ sĩ đã đốt cháy ngọn lửa sáng tác trong tôi. Chắc em cũng biết, điều này có ý nghĩa như thế nào đối với một người yêu thích văn chương và sáng tác. Tôi chìm đắm trong văn chương đến mức không thể thoát khỏi nó, thế là, lúc thi đại học, tôi đã giấu bố tôi đăng ký khoa Trung văn của Bắc Đại[1] và trúng tuyển với thành tích đứng đầu toàn tỉnh.”
[1] Bắc Đại tức Đại học Bắc Kinh, trường đại học hàng đầu của Trung Quốc.
Thầy Chương đột nhiên dừng lại. Thầy cầm cốc trà nhưng không đưa lên miệng. Trầm tư giây lát, thầy nói tiếp: “Liễu Địch, sau này thi đại học, em hãy đăng ký vào Bắc Đại. Nơi đó thật sự là thánh đường của tinh thần và tri thức nhân loại.”
Liễu Địch ngẩn người, cô có thể nhận ra sự quan tâm sâu sắc khó nhận thấy từ câu nói bình thản của thầy Chương. Liễu Địch chưa kịp nghĩ sâu hơn thì tiếng thầy lại vang lên bên tai cô:
“Tôi đến Bắc Đại, chỉ có thể hình dung bằng cụm từ “như cá gặp nước”. Tôi vùi đầu vào đại dương kiến thức, bắt đầu điên cuồng nghiên cứu. Khả năng thiên bẩm và sự chăm chỉ phấn đấu nhanh chóng khiến tôi trở thành người xuất sắc nhất khóa. Lúc đó, dùng từ “nổi bật” để hình dung vị trí của tôi cũng không phải quá đáng. Tôi sở hữu một thứ mà bất cứ người học văn nào cũng ngưỡng mộ, đó là đôi mắt biết quan sát và tâm hồn biết cảm thụ. Cứ như vậy, tôi trải qua ba năm đẹp đẽ trong cuộc đời ở Bắc Đại. Vào kỳ nghỉ đông năm cuối trước khi tôi tốt nghiệp, do bố mẹ tôi làm việc tại một thành phố cách Bắc Kinh không xa, tôi đã về ăn Tết cùng họ. Một ngày trước hôm tất niên, ở đó đã xảy ra vụ hỏa hoạn vô cùng đáng sợ...”
Cây bút trong tay Liễu Địch rơi xuống bàn. Cô nhìn thầy Chương chăm chú. Không hiểu sao cô rất mong thầy Chương dừng kể câu chuyện tàn khốc này. Thầy Chương đưa cốc trà lên miệng, uống một ngụm. Nước trà đã nguội, có lẽ sẽ càng đắng chát.
Đặt cốc trà xuống bàn, thầy Chương không dừng câu chuyện như mong đợi của Liễu Địch, tiếp tục cất giọng trầm thấp và bình tĩnh: “Cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ rõ ánh lửa đêm đó. Ánh lửa sáng rực, chưa từng thấy... Tôi luôn nghĩ bố mẹ tôi lên thiên đường trong ngọn lửa rực cháy đó, họ nhất định sẽ vui vẻ. Tôi thật sự muốn cùng họ lên thiên đường, để xem ánh sáng và màu sắc đó, để cảm nhận những điều đẹp đẽ và vui vẻ, nhưng tôi không có cơ hội... Cảnh tượng cuối cùng đập vào mắt tôi là bức tường đổ sụp xuống người tôi trong ánh lửa. Sau đó... khi tôi tỉnh lại, trước mắt tôi là bóng tối, bóng tối vĩnh viễn.”
Cuối cùng, thầy Chương cũng kết thúc câu chuyện. Sắc mặt thầy vẫn không thể hiện chút xao động. Liễu Địch chống tay lên trán, trong lòng tràn ngập nỗi đau không thể diễn tả. Lời trần thuật của thầy Chương mang một sức mạnh vô hình to lớn, bóp nát lục phủ ngũ tạng của cô, khiến toàn bộ dây thần kinh trên người cô chấn động. Liễu Địch không rơi nước mắt, cô không khóc nổi, chỉ cảm thấy trái tim mình như đang từ từ rỉ máu.
“Thế nào? Nghe xong câu chuyện của tôi, em có cảm nghĩ gì?” Giọng thầy Chương bình thản và tự nhiên, tựa hồ vừa phân tích một cuốn tiểu thuyết, bây giờ hỏi cảm nhận của học trò.
“Đau khổ!” Liễu Địch khó nhọc thốt ra hai từ.
“Em nói gì?” Thầy Chương đứng dậy. Người thầy run rẩy, tựa hồ bị một cơn chấn động bất ngờ.
“Đau khổ!” Liễu Địch lặp lại. Ngoài từ này, cô không biết phải diễn tả thế nào.
Khóe miệng thầy Chương run run. Thầy vội vàng quay người lại, tay lần lần bám vào bệ cửa sổ, cố kìm nén cảm xúc. Vài giây sau, dường như thầy đã lấy lại bình tĩnh, bóng lưng thầy đã trở lại vẻ bình thản như mọi khi, nhưng bàn tay bám vào cửa sổ nổi rõ các khớp và gân xanh.
Một lúc lâu sau, thầy Chương vẫn đứng quay lưng về phía Liễu Địch, chậm rãi lên tiếng: “Em có biết không? Trước đây, khi tôi kể chuyện quá khứ với người khác, tôi cũng từng hỏi cảm nghĩ của bọn họ. Câu trả lời của bọn họ không ngoài hai từ: “thông cảm” và “đáng thương”.”
Liễu Địch sững sờ. Vào thời khắc này, cô chợt hiểu thầy Chương của hơn hai năm qua. Cô đột nhiên thấy sáng tỏ nhiều vấn đề trước đây vẫn mù mờ. Cô hiểu tại sao thầy Chương luôn một thân một mình, xa lánh mọi người, cô hiểu thái độ lạnh lùng của thầy Chương là bất đắc dĩ, cô cũng hiểu tại sao thầy Chương lại tin tưởng cô, chấp nhận sự giúp đỡ của cô.
Ai muốn sống cô độc một mình, muốn tách khỏi thế giới? Ai lại không muốn được người khác biết đến, chấp nhận? Thế nhưng sự “thông cảm” và “đáng thương” chính là một loại kỳ thị. Hành động giúp đỡ dựa trên sự “thông cảm” và “đáng thương” chính là phủ nhận và cười nhạo sự tôn nghiêm của thầy Chương. Vì vậy thầy mới dùng thái độ lạnh lùng và cao ngạo để che giấu bản thân. Thầy thà cự tuyệt sự quan tâm chân thành, chứ không muốn chấp nhận sự giúp đỡ xuất phát từ thái độ kỳ thị của người khác. Thầy tự nguyện xa lánh cuộc đời. Mặc dù sự xa lánh này không mang lại niềm vui và hạnh phúc cho thầy, nhưng ít ra nó cũng giúp thầy tránh xa phản ứng “thông cảm” và “đáng thương” mang tính lăng nhục. Chỉ làm vậy thầy mới có thể giữ lại sự tôn nghiêm của mình.
Chuông báo vào học đột nhiên vang lên. Thầy Chương quay người, sắc mặt thầy đã trở lại vẻ lạnh nhạt. “Liễu Địch!” Thầy nói. “Vào học rồi, chúng ta đi thôi!”
“Nhưng…” Liễu Địch nhìn quyển vở trên bàn. “Bài văn của em…”
“0 điểm.”
Liễu Địch ngây người mất vài giây. Cô nhìn thầy Chương chăm chú, muốn nói điều gì đó nhưng không biết nói thế nào. Sau đó, nước mắt trào ra, làm mờ tầm nhìn của cô. Cô cầm bút viết số 0 lên quyển vở. Do dùng lực quá mạnh, đầu bút chọc thủng trang giấy.
“Tôi không thể làm trái nguyên tắc của mình.” Thầy Chương nói rành rọt từng từ một. “Nhưng tôi có thể cho em biết tôi không hối hận khi nghe bài văn này, cũng không hối hận vì đã kể câu chuyện cuộc đời tôi với em.”
Nước mắt giàn giụa trên gò má Liễu Địch, xối đi giọt lệ thất vọng và tủi thân trước đó, đôi mắt cô sáng lấp lánh. Thầy Chương trầm mặc, chủ động giơ tay về phía Liễu Địch. Cô rùng mình, sau đó nhẹ nhàng cầm tay thầy. Hai thầy trò sánh vai đi khỏi dãy nhà phía bắc, tới khu phòng học ở phía nam như thường lệ.
Trời đột nhiên nổi trận gió lớn, cơn gió hy hữu của mùa hè. Cả sân thể dục lập tức trở thành thế giới mù mịt cát. Bóng lưng của Liễu Địch và thầy Chương dần trở nên mơ hồ trong gió cát. Một giọng hát trong trẻo không biết từ ô cửa nào đó vang vọng khắp không gian:
“Anh hãy đưa tay,
Để em nắm lấy,
Đi qua sa mạc hoang vắng,
Tìm kiếm ốc đảo khao khát bấy lâu...”
Chương 7
Năm lớp 12 đáng sợ cuối cùng cũng đã tới.
Bất kể bọn trẻ vừa tham gia “nghi thức trở thành người lớn” có muốn hay không, đều phải chấp nhận cuộc thử thách đầu tiên sau khi “trở thành người lớn”, đó là kỳ thi đại học. Mà phương thức chấp nhận chính là vùi đầu vào sách vở, học, học và học theo kiểu nhồi vịt.
Trường đại học mở rộng cửa chào đón, nhưng trong mười học sinh chỉ một người có thể bước qua. Để khiến mình vượt trội trong “thiên binh vạn mã”, trở thành người có thể vượt qua “cầu độc mộc”, mỗi học sinh đều cố gắng hết sức, ngày đêm học tập. Hơn nữa, chúng còn âm thầm đọ sức, chỉ sợ bạn khác chăm chỉ hơn mình, một ngày nào đó sẽ vượt qua mình. Thế giới này vốn là một vũ đài cạnh tranh quyết liệt, chỗ nào cũng tranh giành, cấu xé lẫn nhau. Chỉ là kẻ mạnh, bạn mới có cơ hội giành chiến thắng, kẻ yếu sẽ bị đào thải. Đây là quy tắc bất biến của nhân loại từ thời xa xưa.
Nhà trường tăng thêm giờ tự học buổi tối, bắt đầu lúc sáu giờ tối, mỗi ngày hai tiết. Tiết thứ nhất thầy giáo giảng bài, tiết thứ hai làm bài kiểm tra hoặc tự ôn tập. Không một ai than vãn, vì đây là chuyện sớm muộn gì cũng xảy ra, nếu không tổ chức giờ tự học buổi tối, sẽ có không ít phụ huynh kêu ca, phàn nàn nhà trường.
Liễu Địch và thầy Chương tất nhiên cũng bị cuốn vào cơn lốc tự học. Lúc đầu, nhà trường sợ thầy Chương không gánh nổi nhiệm vụ dạy học nặng nề, có ý định đổi giáo viên khác cho lớp Liễu Địch. Nào ngờ ý định này bị học sinh phản đối kịch liệt. Cả lớp ký tên vào thư đề nghị để Liễu Địch nộp cho hiệu trưởng Cao và cô chủ nhiệm. Với tư cách đại diện cho lớp 1, Liễu Địch chỉ nói: “Thầy Chương gặp khó khăn trong công việc, em có thể gánh vác giúp thầy, ở bên cạnh thầy, không người nào có thể thay thế vị trí của em. Trong lòng chúng em, cũng không ai có thể thay thế vị trí của thầy Chương.”
Hiệu trưởng Cao nghe xong, thở dài. Ông vuốt tóc Liễu Địch, cất giọng hiền từ xen lẫn lo lắng: “Cô bé, thầy không thể tưởng tượng sau khi em tốt nghiệp, thầy Chương sẽ thế nào?”
Liễu Địch ngẩn người. Sau khi cô tốt nghiệp, ai sẽ chăm sóc thầy Chương, ai sẽ giúp đỡ thầy? Nhưng tốt nghiệp là chuyện của năm sau, việc cần làm nhất bây giờ là giữ thầy ở bên cạnh cô.
Cuối cùng, lớp Liễu Địch cũng thuyết phục được nhà trường, thầy Chương vẫn tiếp tục dạy môn Ngữ văn. Tuy nhiên, trách nhiệm trên đôi vai Liễu Địch càng nặng nề.
Năm giờ chiều tan học, Liễu Địch vẫn đến văn phòng của thầy Chương như thường lệ. Nếu buổi tối không có tiết của thầy, cô sẽ tiễn thầy ra trạm xe buýt. Nếu thầy phải dạy thêm vào buổi tối, Liễu Địch sẽ ở văn phòng giúp thầy sửa bài thi hoặc chép đáp án để ôn tập. Tiết học đầu tiên của buổi tối kết thúc vào lúc bảy giờ rưỡi. Lúc đó không còn xe buýt, vì vậy thầy Chương quyết định ngủ lại trong văn phòng. Hai chiếc ghế ghép lại thành một cái giường nhỏ, áo khoác của bộ đội trở thành chiếc chăn bông, một miếng bánh mì hoặc gói mì ăn liền chính là bữa tối. Thiết bị sưởi ấm của tòa nhà phía bắc không tốt, Liễu Địch liền mang quạt sưởi ấm ở nhà đến văn phòng cho thầy. Thầy Chương đón nhận, không nói một câu: “Cám ơn!”
Năm mới lặng lẽ đến gần trong sự bận rộn ngày đêm của thầy trò. Vào ngày Ba mươi mốt tháng Mười hai, từ sáng sớm tuyết đã rơi. Hoa tuyết dày đặc bay trong không trung, chỉ một lúc sau đã nhuộm trắng cả mặt đất, mái nhà và cây cối, khiến cả thành phố tràn ngập không khí của năm mới.
Ngày hôm đó, nhà trường phá lệ cho học sinh nghỉ học, để tất cả học sinh, đặc biệt là học sinh lớp 12 tổ chức liên hoan đón chào năm mới. Bọn trẻ thoát khỏi đống bài vở nặng nề, lập tức trở nên hoạt bát, cười đùa vui vẻ. Chúng đắp vô số quả cầu tuyết, treo những ngọn đèn lồng và vô số tấm thiệp chúc mừng năm mới lên cây sồi. Không rõ ai có sáng kiến độc đáo, treo cả chuông gió lên cành cây sồi, thế là tiếng chuông gió lanh canh vang vọng khắp không gian, hòa với tiếng cười nói vui vẻ của các cô cậu học trò.
Trong phòng học càng náo nhiệt hơn. Cửa sổ được phun sơn màu hình trang trí đẹp mắt, hàng chữ tiếng Anh “Happy New Year” nổi bật. Trên bảng đen vẽ hình ông già Noel, hình bánh gato, chuột Mickey... Vô số dải lụa màu, bông hoa, bóng bay, vụn giấy, vô số gương mặt rạng rỡ tươi cười tạo thành bầu không khí vui vẻ, rộn ràng.
Đoán câu đố, chuyền hoa, ca hát, nhảy múa, chơi trò chơi, biểu diễn tiểu phẩm... Bọn trẻ phát huy trí tưởng tượng và sức sáng tạo thiên bẩm, thể hiện niềm vui một cách tự nhiên nhất. Không có ôn tập, không có phụ đạo, không có bài tập, không có thi cử, ngày hôm nay thuộc về bọn trẻ, thuộc về tuổi thanh xuân, thuộc về nụ cười và ước mơ.
Liễu Địch cũng bị cuốn theo đám bạn bè náo nhiệt. Cô cùng hát, cùng nhảy múa, cùng vỗ tay, cùng cười với các bạn. Năm lớp 12 đúng là áp lực quá lớn, Liễu Địch không có nhiều thời gian riêng tư. Cô thật sự cần thư giãn để sợi dây thần kinh căng thẳng và cơ thể mệt mỏi được nghỉ ngơi.
Cô là người thích một mình, nhưng hôm nay cùng các bạn vui chơi, cô cảm thấy rất vui vẻ và thỏa mãn. Cuối cùng cô cũng hiểu ra, người sống cô độc đến mức nào, từ sâu thẳm trong nội tâm cũng khao khát được giao tiếp với người khác, được mọi người biết đến. Khi hiểu ra đạo lý này, Liễu Địch càng nhận thức sâu sắc rằng thầy Chương phải có dũng khí và nghị lực to lớn thế nào thì mới tự nguyện lựa chọn cách sống cô độc.
Buổi liên hoan kéo dài đến tận hai giờ chiều mới kết thúc. Các bạn học vẫn chưa thỏa mãn, lớp trưởng đột nhiên hét lớn: “Karaoke! Ai muốn đi KTV nào?”
Lập tức có người cất giọng khe khẽ: “Học sinh cấp ba không được phép đi KTV.” Người vừa lên tiếng chính là Liễu Địch.
“Sợ đếch gì nào?” Lớp trưởng văng một câu. “Chúng ta nín nhịn ba năm rồi, chỉ một ngày hôm nay, còn kiêng kỵ gì chứ? Hơn nữa KTV đâu phải là nơi bẩn thỉu, nhơ nhớp. Chúng ta chỉ đến đó tụ tập liên hoan thôi mà. Ai muốn đi cùng tớ? Xảy ra chuyện, tớ sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm.”
Ngay lập tức có hơn hai mươi người đứng về phía lớp trưởng. Liễu Địch đưa mắt quan sát, phần lớn đều là những bạn có thành tích học tập không tồi. Các bạn đó có lẽ càng cảm thấy bị gò ép, cần giải tỏa áp lực hơn những người khác.
“Liễu Địch, cậu có đi không?” Lớp trưởng hỏi cô.
“Tớ...” Liễu Địch ngập ngừng nhìn về phía ô cửa sổ nhỏ ở tầng bốn của tòa nhà phía bắc.
“Thầy Chương phải không?” Lớp trưởng đọc ra tâm tư của cô, cậu ta nói một câu giải quyết mọi vướng mắc: “Bây giờ mới hai giờ chiều. Năm giờ chắc chắn chúng ta quay về rồi, không làm nhỡ việc của cậu.”
“Nhưng...” Liễu Địch vẫn không yên tâm. Tuyết rơi dày khiến cô nhìn không rõ ô cửa sổ nhỏ đó. Trông nó rất nhỏ bé và cô độc trong màn hoa tuyết trắng xóa.
Cậu lớp trưởng nhìn Liễu Địch chăm chú. Thiếu nữ trước mặt cậu dù khoác chiếc áo to xù nhưng vẫn lộ rõ vẻ đẹp ngời ngời. Lông mày thanh tú, bờ môi chúm chím, nước da trắng nõn, khuôn mặt trái xoan, còn cả đôi mắt đen láy, trong veo, đầy mơ mộng, thể hiện vẻ ngây thơ và bình yên khó diễn tả. Một thiếu nữ thông minh, xinh xắn khiến nam sinh toàn trường rung động, vậy mà bình thường cô không thèm liếc bọn chúng, chỉ suốt ngày quanh quẩn bên thầy giáo mù. Lớp trưởng đột nhiên cảm thấy bất bình, nghiến răng, lên tiếng “kích động” mọi người: “Các bạn, Liễu Địch là bạn gái xinh đẹp nhất lớp ta, nhưng cậu ấy không bao giờ nể mặt các bạn nam chúng ta. Hôm nay, cậu ấy lại từ chối không tham gia buổi liên hoan của lớp. Chẳng lẽ nam sinh lớp 1 vô dụng đến vậy sao?”
Các bạn trong lớp lập tức ồn ào, huyên náo. Liễu Địch xua tay. “Được rồi, được rồi, tớ đi là được chứ gì? Tớ sợ các cậu rồi đấy.”
Thế là mọi người khoác vai nhau, đi tới một KTV ở gần trường. Lớp trưởng chọn phòng rộng nhất, căn phòng không có cửa sổ nên khi đóng cửa ra vào, bên trong tối om. Lớp trưởng có sáng kiến thắp vài cây nến, không khí lãng mạn và ấm áp lan tỏa khắp căn phòng. Đến lúc này các bạn mới hoàn toàn cảm thấy được tự do thư giãn.
Liễu Địch không hề biết trong lớp cô lại có nhiều nhân tài như vậy. Điệu nhảy “côn trùng ngủ gật” của Viên Hà rất tuyệt. Người cậu mềm dẻo như không xương. Nhảy điệu cuối cùng, cậu còn xoay vài vòng, được mọi người vỗ tay tán thưởng nhiệt liệt.
Lớp trưởng hát tình ca rất hay. Hết Quay đầu, lại đến Thật ra em không hiểu lòng anh, Tình yêu mùa thu, Cám ơn tình yêu của em... Không biết cậu ta hát bao nhiêu bài, dù sao đây không phải là trường học, sẽ chẳng ai chỉ trích. Mấy nam sinh biết chơi guitar tạo thành một ban nhạc, hát các bài hát về tuổi học trò. Các bạn nữ cũng không chịu thua kém, nhảy điệu disco quay cuồng khiến đám nam sinh há hốc miệng.
Liễu Địch cũng hết sức kinh ngạc. Những “thiên tài” này sao không được phát hiện nhỉ? Cũng phải, bọn họ bị giam cầm trong đống sách vở và bài tập, mang trên vai gánh nặng thi cử, làm gì có cơ hội thể hiện tài năng! Nếu không nhờ buổi liên hoan hôm nay, có lẽ đến khi tốt nghiệp, chúng chỉ để lại ấn tượng là những con mọt sách vùi đầu khổ học mà thôi.
Liễu Địch cũng bị ảnh hưởng bởi không khí đó, cô chìm đắm trong bầu không khí vui vẻ và tự do. Cô và các bạn cùng ca hát, nhảy múa, cười nói. Dưới sự cổ vũ của mọi người, Liễu Địch trình bày ca khúc tiếng Anh Yesterday Once More của anh em nhà Carpenters:
“Those were such happy times
And not so long ago
How I wondered where they’d gone
But they’re back again
Just like a long lost friend.”
(Quãng thời gian đó thật tươi đẹp
Và không quá xa vời
Tôi bâng khuâng thầm hỏi ngày thơ ấu giờ trôi về đâu
Nhưng rồi những ngày xưa đó đã quay về
Giống như một người bạn thân xưa cũ.)
Điệu nhạc chậm rãi, mang tâm trạng hoài niệm và buồn bã lập tức lây nhiễm các bạn học. Mọi người không hẹn cùng cất cao tiếng hát với Liễu Địch:
“All my best memories
Come back clearly to me
Some can even make me cry
Just like before
It’s yesterday once more.”
(Tất cả những ký ức ngọt ngào
Trở về trong tôi thật rõ ràng
Có những kỷ niệm khiến tôi òa khóc
Vẫn giống như ngày xưa
Những ngày xưa ấy đã quay về một lần nữa.)
Khi bài hát kết thúc, tất cả đều rơi lệ.
Trong hoàn cảnh và bầu không khí như vậy, Liễu Địch không khỏi cảm động. Tuổi thanh xuân là chân thành, đầy sức sống và vui vẻ. Liễu Địch thật sự đắm chìm trong không khí đó. Cô quên cả thời gian, quên cả nơi mình đang có mặt, quên hết tất cả. Tất nhiên cô cũng quên mất hình bóng đang sốt ruột chờ cô ở đằng sau ô cửa sổ nhỏ bé trên tầng bốn tòa nhà phía bắc.
Cho đến khi rời khỏi phòng KTV, bắt gặp gió tuyết bay trong đêm, Liễu Địch mới chợt nhớ ra. Cô nhảy dựng lên, hỏi người bên cạnh: “Trời ạ! Mấy giờ rồi?”
“Tám giờ rưỡi.” Một bạn nhìn đồng hồ.
“Gì cơ?” Đầu óc Liễu Địch nổ tung. Tám giờ rưỡi? Cô mải chơi nên quên cả thời gian, đã tám rưỡi tối rồi? Liễu Địch không thể khống chế cơn run rẩy và quả tim đập thình thịch trong lồng ngực.
Sao cô có thể quên mất thầy Chương. Thầy Chương, hiện giờ thầy Chương ở đâu? Thầy đã về nhà chưa? Trong lòng Liễu Địch nóng như lửa đốt, cô vô cùng đau đớn. Cô cảm thấy mình là một kẻ tệ bạc.
Tuyết rơi ngày càng nhiều, không biết trời nổi gió từ lúc nào. Ngọn gió bắc cuốn lấy từng đóa hoa tuyết bay vào mặt Liễu Địch. Cô mặc nhiều quần áo mà vẫn run cầm cập. Cô lại nhớ đến thầy Chương, thầy chỉ mặc một chiếc áo khoác mỏng. Trời ạ, thầy Chương, thầy đang ở đâu? Nếu thầy ở văn phòng, thầy làm thế nào để trải qua một buổi chiều dài cô độc? Nếu thầy đã về nhà… Tuyết rơi nhiều như vậy, thầy làm thế nào để đi ra bến xe? Trong lòng Liễu Địch rối bời, cô dùng hết sức lao nhanh về phía trường học, bất chấp gió tuyết.
Cuối cùng, Liễu Địch cũng lảo đảo chạy tới cổng trường. Ơn trời, cổng trường vẫn chưa khóa. Theo thói quen, cô đưa mắt về ô cửa sổ nhỏ ở tầng bốn tòa nhà phía bắc. Văn phòng tối om, nhưng có thể chứng minh điều gì? Người mù vĩnh viễn không cần ánh sáng. Liễu Địch không cần nghĩ ngợi, chạy vội về phía tòa nhà phía bắc.
Bên trong dãy nhà không bật đèn, Liễu Địch lập tức rơi vào bóng tối. Cảm giác về phương hướng biến mất, ánh sáng cũng biến mất, cô chỉ có thể dựa vào trí nhớ, dò dẫm đến chân cầu thang, leo từng bậc lên tầng bốn.
Nghe tiếng giày nện cộp cộp xuống nền nhà, bị bóng tối hư vô hỗn độn bao vây, Liễu Địch đột nhiên cảm thấy sợ hãi và cô độc chưa từng có. Không có trời đất, không có trăng sao và mặt trời, không có cây cỏ, không có muôn loài, cả thế giới chỉ còn lại một mình cô, như con thuyền nhỏ cô độc, trôi dạt trong bóng tối vô cùng vô tận, không biết lúc nào sẽ thịt nát xương tan. Bóng tối có lẽ là thế giới bất hạnh và đáng sợ nhất. Liễu Địch bỗng nhận ra thầy Chương cũng phải sống trong thế giới như vậy. Vụ hỏa hoạn năm năm trước đã định số mệnh của thầy không thoát khỏi bóng tối vô tận, bóng tối không bờ bến. Lúc này, Liễu Địch mới thật sự cảm nhận được tâm trạng của thầy Chương lúc thầy bị mù. Thế giới của người khiếm thị vốn rất cô đơn, vậy mà thầy Chương còn đẩy mình vào nơi cô độc hơn. Hôm nay, cô còn tặng thêm cho thầy một nỗi cô độc, cô quả thực quá tàn nhẫn.
Cuối cùng cũng leo lên tầng bốn, đôi mắt Liễu Địch đã bắt đầu quen dần với bóng tối, miễn cưỡng nhận ra đường nét của vật thể. Cô bám theo bờ tường, đi về phía văn phòng của thầy Chương. Đến trước cửa phòng, cô dừng bước theo thói quen, ngập ngừng một, hai giây rồi gõ cửa.
Không có tiếng trả lời, bốn bề chỉ là sự yên tĩnh đến tột cùng.
Liễu Địch lại gõ cửa, vẫn là sự yên tĩnh đáng sợ.
Cô vội vàng đẩy cửa, cánh cửa khép hờ lập tức mở toang.
Trong phòng tối đen, Liễu Địch lần lần tới chỗ công tắc bật đèn. Ánh sáng chợt lóe lên khiến Liễu Địch lóa mắt. Sau đó, cô quan sát một lượt căn phòng. Bàn làm việc, ghế ngồi, cốc trà, phích nước, chậu hoa nhài, quạt sưởi… vẫn ở nguyên chỗ cũ, nhưng thầy Chương thì không thấy đâu. Mặc dù sớm đoán biết, Liễu Địch vẫn không khỏi hoảng hốt và thất vọng.
Liễu Địch lại đảo mắt một vòng, cô chợt phát hiện thấy mũ và găng tay của thầy Chương vẫn ở trên bàn. Tim cô thắt lại, thầy Chương không mang theo mũ và găng tay, chắc chắn thầy chưa về nhà. Thầy có thể đi đâu?
Sau đó, Liễu Địch nhìn thấy một tờ giấy và cây bút đặt bên cạnh chiếc mũ và đôi găng tay. Đó là cây bút mực đỏ dùng để viết nhận xét bài văn. Lẽ nào thầy Chương viết lời nhắn để lại cho cô? Ba năm nay, Liễu Địch chưa từng nhìn thấy thầy Chương viết. Cô vội cầm tờ giấy lấy lên xem, bàn tay đột nhiên run run. Trên tờ giấy không có chữ, chỉ có vô số dấu chấm hỏi, to nhỏ, đậm nhạt chồng lên nhau. Có mấy dấu hỏi, do người viết ấn bút quá sâu, thậm chí chọc thủng cả giấy, chứng tỏ tâm trạng của người viết vô cùng nôn nóng và sốt ruột.
Tim Liễu Địch nhói đau, nước mắt chảy giàn giụa, rơi cả xuống tờ giấy, làm nhòe dấu hỏi màu đỏ trên tờ giấy trắng. Trong lòng Liễu Địch tràn ngập nỗi đau đớn và ân hận. Thầy Chương, thầy đang muốn hỏi ai? Thầy muốn hỏi điều gì? Có phải thầy muốn hỏi tại sao em không đến đón thầy? Tại sao con bé đó lại để thầy một mình ở đây, để nỗi cô độc gặm nhấm tâm hồn thầy? Thầy có biết không, em đã quên mất thầy, quên mất thầy…
Trong tầm nhìn trở nên mơ hồ vì nước mắt, Liễu Địch lại thấy chiếc mũ và đôi găng tay bị bỏ quên trên bàn làm việc. Thầy Chương không đội mũ và đeo găng tay mà đã đi ra ngoài. Trong đêm gió tuyết này, thầy có thể đi đâu? Lẽ nào thầy đi tìm cô? Trời ạ, thầy làm sao có thể đi “tìm”?
Lòng Liễu Địch đau như cắt, trán rịn mồ hôi lạnh. Cô lập tức quay người lao ra khỏi văn phòng, chạy như bay xuống cầu thang, bất chấp bóng tối bao vây.
Liễu Địch chạy một mạch đến phòng bảo vệ ở cổng trường. Cô vừa đập cửa phòng bảo vệ vừa hét to: “Ông Lý! Ông Lý!”
Ông Lý chậm chạp đi ra cửa. Liễu Địch túm lấy tay ông. “Ông Lý, thầy Chương đâu rồi? Ông có nhìn thấy thầy Chương không ạ?”
“Thầy Chương à? Ờ, ông có nhìn thấy.” Ông Lý cất giọng già nua chậm rãi. “Lúc năm giờ chiều đến chỗ ông, hỏi ông có nhìn thấy cháu đi ra ngoài không. Ông nói không thấy. Nhiều người đi lại như vậy, ông thật sự không nhìn thấy cháu. Sao hôm nay cháu không về cùng thầy Chương?”
Trong lòng Liễu Địch càng rối bời và chua xót.
“Nghe ông nói vậy, thầy Chương quay người đi về phía lớp học của cháu xem thế nào.”
“Sao ạ? Thầy tới lớp học của cháu ư?” Liễu Địch kinh ngạc hỏi.
“Đúng vậy.” Ông Lý thở dài. “Ông khuyên thầy đừng đi nhưng thầy không nghe. Tính của thầy chắc cháu hiểu rõ hơn ai hết. Ông không dám giúp thầy, chỉ có thể đứng nhìn thầy dò dẫm từng bước đi tới tòa nhà phía nam. Tuyết dày như vậy, thầy lại chẳng nhìn thấy gì, ông thấy thầy bị trượt ngã, rồi thầy đứng lên, sau đó lại bị ngã…” Ông Lý thở dài, lắc đầu. “Thật đấy, ông không biết thầy ngã bao nhiêu lần. Thầy còn không đội mũ…”
“Được rồi, ông Lý, ông đừng nói nữa!” Trong lòng Liễu Địch dấy lên một nỗi đau xé tim gan. Tất cả đều là lỗi của cô! “Sau đó thì sao ạ?” Cô sốt ruột hỏi.
“Sau đó ông không đành lòng nhìn thầy nữa nên quay về phòng bảo vệ.”
“Sao đó thì sao ạ? Rốt cuộc thầy Chương đi đâu?”
“Ông không biết.” Ông Lý nói.
Liễu Địch thất vọng thở dài. Hỏi thăm một hồi, cô vẫn không biết tung tích của thầy Chương. Thầy Chương có thể đi đâu? Liễu Địch tự hỏi. Trong đầu cô đột nhiên vụt qua một ý nghĩ. Bến xe, đúng rồi, là bến xe. Sao cô có thể quên mất bến xe? Liễu Địch không nghĩ ngợi, lao nhanh ra trạm xe buýt.
Tuyết rơi thưa dần từ lúc nào. Mọi người đã về nhà đón năm mới từ lâu. Trên đường phố chỉ thấp thoáng vài bóng người và xe cộ. Đèn đường tỏa ánh sáng mờ mờ xuống nền tuyết trắng, tạo thành một vẻ cô tịch thê lương. Liễu Địch bất giác đi chậm lại. Vỉa hè vắng lặng, bước chân cô ngày càng nặng nề.
Trạm xe buýt mỗi lúc một gần. Liễu Địch cảm thấy một nỗi sợ hãi không nói thành lời. Thầy Chương liệu có ở bến xe? Chuyến xe cuối cùng đã chuyển bánh từ lâu, thầy không ở bến xe đấy chứ? Liễu Địch cắn môi, bước chân trở nên chậm chạp. Cô muốn đi nhanh đến bến xe nhưng lại sợ hãi. Trong tâm trạng đầy mâu thuẫn đó, cuối cùng Liễu Địch cũng đến gần tấm biển sắt cô độc ở trạm xe buýt. Dưới tấm biển là một thân hình cao lớn bất động. Nhờ ánh đèn đường, Liễu Địch nhận ra đó là thầy Chương của cô.
Chính là thầy Chương. Thầy vẫn mặc chiếc áo khoác mỏng màu đen, không đội mũ và đeo găng tay. Thầy đứng bên cạnh tấm biển, một tay nắm chặt cột sắt của biển báo. Thầy đã đứng ở đó rất lâu, bởi Liễu Địch nhìn thấy lớp tuyết trên người thầy. Hai chân thầy vùi dưới tuyết. Thầy cứ đứng đó, dưới ánh đèn mờ mờ, trông thầy như một bức tượng đá hoa cương.
Liễu Địch ngây người, đầu óc trống rỗng, thậm chí cô có cảm giác mình không thể thở được trong giây lát. Cô cảm thấy trái tim mình thắt lại, đau đến mức lòng bàn tay túa mồ hôi. Nước mắt lại trào ra nơi khóe mi. Qua làn nước mắt, thầy Chương trở thành hình bóng mơ hồ. Liễu Địch lau nước mắt, rồi ấn tay vào lồng ngực đau đớn. Sau đó, cô nhẹ nhàng đi đến bên bức “tượng điêu khắc”, cất giọng nghẹn ngào: “Thầy Chương!”
“Bức tượng điêu khắc” khẽ cử động. “Liễu Địch, là em phải không?” Giọng trầm thấp của thầy không che giấu sự vui mừng. Nhưng chỉ trong chốc lát, thầy lấy lại sự bình tĩnh thường ngày. “Tôi biết.” Thầy nói, giọng run run. “Tôi biết, nếu em không xảy ra chuyện gì, nhất định em sẽ ra bến xe tìm tôi.”
“Thầy Chương!” Liễu Địch nấc nghẹn. Cô cảm thấy cả cơ thể, trái tim và tâm hồn đều run rẩy. Thầy Chương vẽ nhiều dấu chấm hỏi như vậy, thầy đội gió tuyết đi tìm cô. Thầy đứng ở bến xe, đợi cô trong giá lạnh không biết bao lâu. Vậy mà thầy còn lo cô xảy ra chuyện.
Trong lúc thầy Chương một mình lo lắng cho cô, cô lại cùng người khác đi chơi, ca hát, ném thầy ra khỏi đầu. Giây phút này, cô cảm thấy mình thật đê tiện, ích kỷ và vô tình. Cô tháo găng tay, từ từ nắm lấy bàn tay đang bám lấy cây cột sắt của thầy Chương. Thầy Chương run rẩy, vội vàng thu tay về, nhưng do ở ngoài trời quá lâu, bàn tay thầy cứng đờ, không thể cử động. Liễu Địch nhẹ nhàng xoa bóp bàn tay cứng đờ đó. Cô có muôn vàn điều muốn nói nhưng cổ họng tắc nghẹn, không thể thốt thành lời. Cuối cùng, vẫn là thầy Chương lên tiếng trước: “Liễu Địch, em bỏ tay ra đi, đừng để mình bị lạnh cóng.”
Chỉ một câu nói ngắn gọn đã khiến tất cả sự hối hận, áy náy, cảm động, tự trách… dấy lên trong lòng Liễu Địch. Nhiều cảm xúc đến cùng một lúc làm tâm hồn nhỏ bé của Liễu Địch không ngừng run rẩy. Cuối cùng cô không thể khống chế bản thân, vùi đầu vào lòng thầy Chương, òa khóc nức nở. Tâm trạng đau đớn, hối hận, áy náy, cảm động cùng trào ra theo tiếng khóc của cô. Liễu Địch ôm chặt thầy Chương, nói: “Thầy Chương, thầy hãy trách mắng em đi, trừng phạt em đi! Em sai rồi, em sai rồi! Em đã quên mất thầy, em đã không nhớ đến thầy…”
Liễu Địch vừa khóc vừa lẩm bẩm, nhưng bản thân cô cũng không biết mình đang nói gì. Sau đó, cô cảm thấy một cách rõ ràng bàn tay lạnh giá của thầy Chương nhẹ nhàng vỗ lưng cô. Giọng nói của thầy vang lên bên tai cô, lần này, giọng thầy vô cùng ôn hòa: “Liễu Địch, em đừng khóc. Em không làm sai điều gì. Em đã vì tôi mà mất quá nhiều thời gian… Đừng khóc nữa, được không em?” Giọng nói đó dịu dàng như cơn gió xuân tháng Ba, không chút lạnh lẽo. Liễu Địch dần ngừng khóc trong tiếng thì thầm dịu dàng đó. Cô đột nhiên cảm thấy trái tim mình như búp hoa còn đọng giọt sương mai, kỳ ảo, đẹp đẽ và thuần khiết.
Tuyết lặng lẽ ngừng rơi. Vầng trăng chui ra khỏi mây, chiếu ánh sáng nhàn nhạt khắp không gian. Ánh trăng và tuyết trắng phảng phất khiến không gian như được khoác chiếc áo cưới lung linh, mộng ảo.
Tất cả trở nên thánh thiện vô cùng…
Chương 8
Sau Tết dương lịch, kỳ nghỉ đông lặng lẽ đến, rồi lặng lẽ đi.
Đối với học sinh lớp 12, kỳ nghỉ đông chỉ là hữu danh vô thực. Ngoài sáu ngày nghỉ Tết theo luật định, chúng vẫn đến trường học thêm, vẫn về nhà vào lúc hoàng hôn, vẫn phải làm cả núi bài tập như những ngày thường. Tài liệu ôn thi các môn và đề thi thử liên tục được phát, cặp sách của học sinh đều nặng trĩu, khối lượng bài tập khổng lồ khiến chúng thở không ra hơi.
Học kỳ mới lại bắt đầu. Chỉ hơn hai tháng sau, bọn chúng sẽ bước một chân ra khỏi cánh cửa trường trung học. Hơn bốn tháng sau, họ sẽ tham gia kỳ thi đại học đáng sợ. Học sinh lớp 12 ai cũng gầy rộc đi, sắc mặt nhợt nhạt, hai mắt lờ đờ vì thiếu ngủ. Thế nhưng, các thầy cô và bậc phụ huynh không vì chúng mệt mỏi, căng thẳng mà thả lỏng. Chúng càng không dám lơ là. Đây là giai đoạn then chốt, chỉ cần lơ là một chút là mọi nỗ lực trước đó sẽ tan như bọt biển. Cạnh tranh lúc nào cũng tàn khốc như vậy.
Mùa xuân ở phương Bắc đến rất muộn. Sau tiết thanh minh, ngọn cỏ mới bắt đầu nhú. Nhờ mấy trận mưa phùn, hoa đào phơn phớt hồng, hoa lê trắng muốt, hoa lài mùa đông vàng ươm nở rộ. Trong và ngoài khuôn viên trường học được nhuộm các màu sắc tươi sáng. Cây bạch dương nhú chồi xanh lục, cây dương liễu đung đưa tà váy dịu dàng, cây hợp hoan lắc lư cành lá mềm mại như đuôi chim công…. Mùa xuân đều thuộc về mọi sinh mệnh.
Chỉ có những học sinh chuẩn bị tốt nghiệp cấp ba, ngày ngày vùi đầu vào đống bài tập là không thuộc về mùa xuân này. Thời gian trôi qua nhanh như cơn gió thoảng. Đến tháng Năm, học sinh bắt đầu đăng ký nguyện vọng vào đại học. Các bạn học sinh và phụ huynh thận trọng cân nhắc, đồng thời trưng cầu ý kiến của những người xung quanh. Sau đó, chúng nộp tờ đăng ký nguyện vọng cho nhà trường, giao phó vận mệnh của mình. Nguyện vọng của Liễu Địch vô cùng đơn giản, cô chỉ điền một nguyện vọng duy nhất: khoa Trung văn, Đại học Bắc Kinh.
Không khí ở trường học ngày càng căng thẳng. Đám học sinh ra sức làm bài tập, đọc sách, học thuộc lòng… chỉ hận không thể đọc tất cả các loại sách trong hơn một tháng. Tóm lại là trong khoảng thời gian này, chúng không rời tay khỏi quyển sách, bất kể là lúc ăn cơm hay đi vệ sinh.
Không biết ai đó đã viết trên bảng dòng chữ: “Chúng ta phải cố gắng! Chúng ta ra sức tiến về phía trước! Thế giới tươi đẹp, thế giới quang vinh, xán lạn đang chờ đón chúng ta!” Đám học sinh không ai cười nhạo, cũng không ai xóa khẩu hiệu này. Một thời gian sau, nó trở thành động lực học tập của học sinh. Trong không khí khổ học hăng say, không ai chú ý đến mùa xuân đầy sắc màu bên ngoài cửa sổ.
Trong những ngày tháng căng thẳng đó, một buổi chiều, Liễu Địch bị cô chủ nhiệm Trần Chi gọi tới một góc khuất ngoài hành lang.
“Cô đã xem tờ đăng ký nguyện vọng của em.” Cô giáo cất giọng nghiêm nghị. “Tại sao em không điền nguyện vọng hai?”
“Em không có nguyện vọng hai.” Liễu Địch lập tức trả lời mà không hề suy nghĩ. “Em chỉ muốn vào Bắc Đại.”
“Không có ư?” Cô giáo Trần nghi hoặc cau mày. “Nhỡ em không thi đỗ thì sao? Kiểu gì cũng phải có một đường lùi chứ?”
“Em không cần để lại đường lùi cho mình. Từ trước đến nay, đường lùi chỉ dành cho người nhu nhược. Em không tin mình không thi đỗ.”
“Hả?” Cô giáo Trần vô cùng kinh ngạc. Tuy biết rõ khả năng của Liễu Địch, nhưng cô không ngờ Liễu Địch lại tự tin đến mức dám “đập nồi dìm thuyền”[1], tựa hồ nữ sinh trước mặt cô đã nắm chắc vận mệnh trong tay. Hơn hai mươi năm dạy học, lần đầu tiên cô giáo Trần gặp học sinh tự tin như Liễu Địch.
[1] Đập nồi dìm thuyền: dựa theo tích Hạng Vũ đem quân đi đánh Cự Lộc, sau khi qua sông thì dìm hết thuyền, đập vỡ nồi niêu để binh sĩ thấy không còn đường lui, có nghĩa là phải quyết tâm đánh thắng.
“Liễu Địch.” Trầm tư một lát, cô giáo Trần nói tiếp. “Cô rất tán thưởng quyết tâm của em, cô cũng tin tưởng vào khả năng của em, nhưng chuyện thi cử không ai lường trước được, cô thật sự không dám tin một trăm phần trăm em thi đỗ. May mà hiện tại em vẫn còn cơ hội, trường chúng ta vừa xin được một suất tuyển thẳng vào Bắc Đại. Em cũng là một trong số ứng cử viên cạnh tranh suất đó.”
“Vậy hả cô?” Liễu Địch động lòng. Tuy cô có niềm tin vào bản thân nhưng cũng không dám chắc một trăm phần trăm. Nếu giành được suất học bổng tuyển thẳng này, cô không những có thể thực hiện được ước mơ của mình, mà còn có thể tránh hai tháng ôn thi khổ cực. Nhưng cô chủ nhiệm nói cô chỉ là một trong những ứng cử viên. Vậy… Liễu Địch thăm dò: “Thưa cô, em có cơ hội không ạ?”
“Cơ hội tất nhiên là có, nhưng khó khăn cũng rất lớn.” Cô Trần nói thẳng: “Xét về thành tích học tập của em thì không có gì đáng bàn. Ai cũng biết em luôn đứng nhất nhì toàn khối. Tuy nhiên, Bắc Đại yêu cầu học sinh được tuyển thẳng phải tài đức vẹn toàn. Mà em chưa bao giờ là học sinh “ba tốt”[2], cũng không phải là cán bộ lớp, thậm chí chưa phải là Đoàn viên…”
[2] “Ba tốt” là một danh hiệu dành cho học sinh xuất sắc, bắt đầu áp dụng từ năm 1954. “Ba tốt” chỉ đạo đức tốt, học tập tốt, hoạt động tập thể tốt.
“Việc đó có thể chứng minh điều gì? Đạo đức của em không tốt hay sao?” Liễu Địch nói nhỏ, giọng hơi tức giận. Cô cảm thấy mình bị sỉ nhục. Không làm cán bộ, không vào Đoàn là sự lựa chọn của cô, nhưng cũng chính vì điều này, mỗi lần bình bầu “ba tốt”, cô đều bị đánh trượt. Liễu Địch chẳng bận tâm cô có được nhận danh hiệu “ba tốt” hay không, nhưng không thể vì điều đó mà phủ nhận nhân phẩm của cô được.
“Tuy không thể nói đạo đức của em không tốt, nhưng ở trường, đó là căn cứ quan trọng để đánh giá phẩm chất của một học sinh. Ít nhất…” Cô Trần nhấn mạnh: “Nó chứng tỏ em không có thái độ tích cực và tinh thần cầu tiến.”
Liễu Địch ngẩng đầu. Cô không đồng ý với câu nói sau cùng của cô Trần, nhưng cũng chẳng thể phủ nhận câu đầu tiên. Trầm tư một lát, Liễu Địch cất giọng quả quyết: “Cô Trần, cô hãy để người khác cạnh tranh suất tuyển thẳng này đi. Nếu bắt em dùng chuyện vào Đoàn hay làm cán bộ lớp làm ván cầu nhảy tới Bắc Đại, em thà dựa vào sự nỗ lực của mình, đường đường chính chính thi vào Bắc Đại còn hơn.”
Cô giáo Trần hít một hơi thật sâu. Liễu Địch có ngoại hình xinh xắn, trầm tĩnh nhưng bên trong là tính cách quật cường và tự phụ. Về điểm này, Liễu Địch rất giống thầy giáo mù mà cô bé chăm sóc. Nghĩ đến “thầy giáo mù”, trong đầu cô Trần liền nảy ra một ý. Đúng rồi, tại sao cô không nghĩ tới cách này chứ?
“Liễu Địch!” Cô giáo Trần cất giọng hồ hởi. “Cô có một cách có thể giúp em không cần vào Đoàn hay làm cán bộ lớp mà vẫn có thể giành được suất tuyển thẳng vào Bắc Đại. Hơn nữa, cách này tám, chín mươi phần trăm đảm bảo có kết quả.”
“Thật không ạ? Cách gì vậy cô?” Liễu Địch vừa ngạc nhiên vừa vui mừng.
“Chẳng phải em chăm sóc thầy Chương suốt ba năm nay sao? Đây chính là hành động thực tế nhất.” Cô giáo Trần vô cùng phấn khích về ý tưởng “thiên tài” của mình. “Cô có một người bà con làm phóng viên ở đài truyền hình. Hôm nay, cô sẽ nói chuyện với người đó, ngày mai người đó đến trường phỏng vấn em. Em hãy kể chuyện chăm sóc thầy Chương, không cần khoa trương, cứ có thế nào thì nói như vậy. Đây vốn là một câu chuyện cảm động lòng người. Cô sẽ bảo người bà con của cô phát cuộc phỏng vấn này trên truyền hình trong thời gian sớm nhất. Nếu việc làm của em được tuyên truyền trên ti vi, chắc sẽ gây tiếng vang gấp nhiều lần việc vào Đoàn hay làm cán bộ ấy chứ. Đến lúc đó, em sẽ nắm chắc tám, chín mươi phần trăm cơ hội được tuyển thẳng vào Bắc Đại.”
Cô Trần càng nói càng tỏ ra hồ hởi: “Được rồi, cứ quyết định như vậy đi! Em hãy về nhà chuẩn bị, ngày mai sẽ phỏng vấn. À, em hãy nói trước với thầy Chương, ngày mai sẽ phỏng vấn cả thầy ấy, thầy ấy nhất định sẽ bằng lòng. Được lên ti vi và nổi tiếng, ai mà không muốn chứ?” Nói đến đây, cô Trần mới phát hiện Liễu Địch đang nhìn cô bằng ánh mắt phẫn nộ xen lẫn khinh thường.
“Thưa cô!” Giọng nói của Liễu Địch như phun ra ngọn lửa. “Cô không cảm thấy làm vậy là rất đê tiện hay sao?”
“Đê tiện?” Cô Trần không tin vào tai mình. “Sao em lại nói là đê tiện? Cô cũng chỉ vì muốn tốt cho em.”
“Muốn tốt cho em?” Liễu Địch hít một hơi sâu, lắc đầu. Cô nói rành rọt từng từ: “Cô coi em là gì? Cô coi thầy Chương là gì?”
“Sao em có thể nói vậy?” Cô giáo Trần không khỏi tức giận. Làm sao cô không bực tức khi kế hoạch hoàn hảo do cô nghĩ ra bị Liễu Địch dùng từ “đê tiện” phủ nhận sạch trơn? “Chuyện này có lợi cho em và cả thầy Chương. Em có thể nổi tiếng, có thể vào Bắc Đại. Còn thầy Chương cũng sẽ nhận được nhiều sự giúp đỡ hơn, cuộc sống và công việc của thầy sẽ dễ dàng, thuận lợi hơn.”
“Có lợi ở điểm nào ạ?” Cuối cùng Liễu Địch không kiềm chế nổi, cất cao giọng: “Cô Trần, cô muốn đẩy thầy Chương đến trước giới truyền thông, xé toạc vết thương của thầy cho tất cả mọi người cùng thấy. Cô bắt em lợi dụng thầy để nổi tiếng, khiến vết thương lòng của thầy lại càng đau. Cô khiến tất cả mọi người đều biết thầy mù lòa, khiến tất cả mọi người thương hại thầy, bố thí sự giúp đỡ cho thầy, họ giẫm đạp lên sự tôn nghiêm của thầy. Cô biến thầy thành kẻ đáng thương, biến em thành người học trò mua danh trục lợi, biến sự chăm sóc không đáng kể của em trở thành vốn để em tiến thân, biến quan hệ giữa em và thầy trở thành mối quan hệ lợi dụng và bị lợi dụng. Vậy mà cô còn nói muốn tốt cho em và thầy. Cô... Sao cô có thể thốt ra những lời đó?”
Cô giáo Trần hoàn toàn không hiểu gì. Một loạt lý luận của Liễu Địch khiến đầu óc cô lùng bùng. Cô cất giọng nghi hoặc: “Liễu Địch, em nói gì thế? Cô có ý tốt mà em lại coi cô lòng lang dạ thú sao?”
Liễu Địch thở dài bất lực. “Cô Trần, em biết cô có ý tốt với em, nhưng cô cũng như tất cả mọi người, đều coi thầy Chương là người mù. Do đó, việc thầy không nhìn thấy ánh sáng khiến mọi người cảm thấy thương hại. Còn em, em coi thầy là một người thầy mà em kính phục và sùng bái, vì vậy, việc thầy sống trong tăm tối khiến em cảm thấy đau đớn và bi thương. Sự thương hại hình thành khi ta nghĩ rằng mình ưu việt hơn người khác. Khi cô và mọi người thương hại thầy, cũng có nghĩa đã chà đạp lên sự tôn nghiêm của thầy. Thật ra chúng ta không có tư cách thương hại bất cứ ai, đặc biệt là thầy Chương, bởi chúng ta không hẳn đã ưu việt hơn thầy, cũng chưa chắc đã đứng trên thầy. Thậm chí em có thể nói, phần lớn chúng ta ở dưới chân thầy. Có thể về mặt thân thể, thầy có khiếm khuyết không bằng người khác, nhưng về mặt kiến thức, học vấn và tư tưởng, thầy cao quý hơn bất cứ người nào.”
Cô Trần chỉ biết trợn mắt, há miệng. Trong đầu óc của nữ sinh này toàn là những suy nghĩ kỳ lạ. Con bé dám bảo vệ Chương Ngọc, còn khẳng định người đàn ông mù lòa, người giáo viên chưa tốt nghiệp đại học và chỉ dạy tạm thời đó là cao quý hơn bất cứ ai? Thảo nào con bé tận tâm tận lực chăm sóc Chương Ngọc, thảo nào Chương Ngọc nhìn nó bằng ánh mắt khác. Con bé này và Chương Ngọc đúng là một cặp thầy trò không bình thường.
“Vậy...” Cô giáo Trần không cam lòng, hỏi: “Em không cần suất tuyển thẳng, không cần cơ hội nổi tiếng hay sao?”
Nổi tiếng? Đến bây giờ cô chủ nhiệm vẫn cho rằng việc này là cơ hội nổi tiếng? Liễu Địch cắn môi, cố gắng đè nén cơn giận dữ, nhưng lời nói của cô không khách khí: “Em không cần! Em và thầy Chương đều không phải là người dung tục như vậy.”
Cô giáo Trần sắp không thể kiềm chế cơn tức giận. Liễu Địch dám dùng từ “dung tục” với cô. Ai dung tục ở đây? Là cô hay sao? Cô cũng chỉ muốn tốt cho học trò, vậy mà bị con bé nói thành “dung tục”.
Cô giáo Trần muốn mắng Liễu Địch một trận nhưng cô biết không thể làm vậy. Liễu Địch chỉ là một đứa trẻ, cô không thể so đo với trẻ con. Hơn nữa, Liễu Địch là một học trò đầy triển vọng. Nếu Liễu Địch đăng ký nguyện vọng hai, cô cũng chẳng cần bận tâm, bởi Liễu Địch kiểu gì cũng thi đỗ đại học. Nhưng con bé chỉ đăng ký Đại học Bắc Kinh, đây không phải là chuyện giỡn chơi. Từ một trường trung học nhỏ ở miền Bắc, chen chân vào cánh cửa Bắc Đại đâu phải dễ dàng. Ngộ nhỡ sơ sẩy, một học sinh có thành tích xuất sắc như Liễu Địch mà thi trượt đại học, thử hỏi mặt mũi cô sẽ để vào đâu? Hơn nữa, điều đó còn ảnh hưởng đến tỷ lệ thi đỗ đại học của lớp cô. Nghĩ đến đây, cô giáo Trần toát mồ hôi hột. Con bé này đúng là chẳng hiểu biết gì cả.
Nhưng đối diện với một học trò vừa bướng bỉnh vừa tự phụ, cô giáo Trần biết nói thế nào cũng vô dụng. Ai có thể khuyên nhủ nó? Trừ khi... Trong đầu cô giáo Trần lại nảy ra một sáng kiến.
“Liễu Địch.” Cô giáo Trần tiếp tục. “Nếu thầy Chương đồng ý, em sẽ không phải đối, đúng không?”
“Gì ạ? Cô định đi nói với thầy Chương hay sao?” Liễu Địch nhảy dựng lên. Cô hiểu rõ hơn ai hết, đối với thầy Chương, đề nghị này chẳng khác nào đâm thêm một nhát vào nỗi đau của thầy. “Thưa cô, cô đừng đi nói với thầy Chương, thầy sẽ không đồng ý đâu ạ!”
“Nếu vì bản thân, có thể thầy ấy không chịu, nhưng vì em, chẳng lẽ thầy ấy lại không đồng ý hay sao?” Cô Trần lên tiếng, giọng nói vô cùng chắc chắn.
Liễu Địch ngẩn người. Cô không ngờ cô chủ nhiệm lại nghĩ ra cách này, dùng cô làm vũ khí tấn công thầy Chương. Con người quả nhiên là loài động vật tàn nhẫn.
Cô giáo Trần nói tiếp: “Cô sẽ bàn với thầy Chương. Sự việc này liên quan đến lợi ích thiết thực của em. Cô không tin em chăm sóc thầy ấy suốt ba năm, thầy ấy lại không chịu báo đáp em. Thầy ấy không đến nỗi máu lạnh như vậy chứ?”
“Đây không phải là vấn đề báo đáp, cũng không phải vấn đề máu lạnh, mà là vấn đề nhân cách và sự tôn nghiêm.” Liễu Địch nói nhỏ. Trầm mặc vài giây, cô ngẩng đầu, ánh mắt vụt qua một tia sáng lạ thường: “Cô Trần, bất kể cô dùng lý do gì, thầy Chương chắc chắn sẽ không đồng ý.”
“Nếu thầy ấy đồng ý thì sao?” Cô giáo Trần hỏi một câu.
“Nếu thầy ấy đồng ý.” Giọng nói của Liễu Địch rõ ràng và kiên định. “Vậy thì... thầy ấy không phải là thầy Chương mà em biết.”
Cô giáo Trần ngây người, logic kiểu gì lạ vậy? “Dù thế nào, cô cũng sẽ thử một lần.” Cô Trần nói xong, liền quay người đi ra ngoài.
Năm giờ chiều, Liễu Địch tiễn thầy Chương tới trạm xe buýt đợi xe như thường lệ. Hôm nay lớp cô không có tiết tự học ngữ văn buổi tối. Trên đường đi, hai thầy trò thường im lặng. Liễu Địch muốn nhìn thấy điều gì đó trên nét mặt của thầy Chương, nhưng thầy vẫn tỏ ra bình tĩnh, lạnh nhạt như thường lệ. Có lẽ cô chủ nhiệm vẫn chưa kịp nói chuyện với thầy.
Ánh hoàng hôn chiếu tia nắng vàng dịu dàng khắp không gian. Liễu Địch dắt thầy Chương đến trạm xe buýt, định để thầy ngồi nghỉ ở bồn hoa đinh hương, nhưng thầy Chương nhẹ nhàng giật khỏi tay cô, đi thẳng đến bên cây dương liễu. Từ trước đến nay, cảm giác phương hướng của thầy đều rất chính xác.
Liễu Địch hơi sững sờ khi phát hiện ra điều bất bình thường. Lẽ nào cô chủ nhiệm đã đi tìm thầy Chương và thầy đã nhận lời cô giáo? Không, không thể! Cô tình nguyện chăm sóc thầy không phải vì ơn huệ, hơn nữa thầy Chương cũng chưa bao giờ coi cô là ân nhân. Bằng không, thầy tuyệt đối không chấp nhận sự chăm sóc của cô. Thầy... Chắc chắn thầy không nhận lời.
Bốn bề rất yên tĩnh, ngoài hai thầy trò, không có ai đứng đợi xe. Ánh hoàng hôn chiếu xuống cây dương liễu, tạo thành bóng dài trên mặt đất.
“Liễu Địch.” Trầm mặc một lát, cuối cùng thầy Chương cũng lên tiếng, giọng của thầy hơi nặng nề, có vẻ thầy phải hạ quyết tâm rất lớn mới thốt thành lời: “Có một chuyện tôi muốn nói cho em biết.”
“Gì ạ?” Đôi lông mày thanh tú của Liễu Địch nhíu chặt. Theo bản năng, cô đã đoán ra điều thầy Chương muốn nói.
“Chiều nay, cô chủ nhiệm lớp em đến tìm tôi. Cô ấy nói với tôi một chuyện liên quan đến em...”
“Thầy không cần nói với em.” Liễu Địch đột ngột cắt ngang lời thầy. “Em biết, là việc tuyển thẳng vào Bắc Đại.” Liễu Địch không dám nghe tiếp. Chẳng hiểu tại sao cô bỗng nhớ tới cảnh thầy Chương đứng đợi cô ở bến xe trong buổi tối tuyết rơi ngày cuối cùng của năm, bên tai cô vang lên cô nói của cô chủ nhiệm: “Vì em, chẳng lẽ thầy ấy lại không đồng ý hay sao?”
“Em biết rồi à?” Thầy Chương có vẻ kinh ngạc.
“Vâng ạ! Cô Trần đã nói chuyện này với em, nhưng em từ chối.” Liễu Địch cất giọng dứt khoát. Cô không dám để thầy Chương nói trước, cô sợ nghe thấy lời thỏa hiệp từ thầy, dù sự thỏa hiệp đó là vì chính cô. Liễu Địch biết rõ, chỉ cần thỏa hiệp, thầy Chương sẽ coi thường nhân cách của cô, cô cũng sẽ coi thường nhân cách của thầy. Cô rất sợ mối quan hệ giữa cô và thầy sẽ thay đổi vì chuyện này.
“Ờ.” Thầy Chương thở nhẹ một hơi, như được an ủi. Sau đó, thầy nói khẽ: “Tôi cũng từ chối lời đề nghị của cô giáo.”
Sống mũi Liễu Địch bỗng cay cay. Tất cả cảm giác sợ hãi, thấy thỏm đè nặng trong lòng suốt một buổi chiều, lúc này như được đôi bàn tay vô hình gỡ xuống. Cùng lúc đó, một thứ tình cảm dịu dàng lặng lẽ ngập tràn trái tim cô.
Liễu Địch nhìn thầy Chương, gương mặt nhợt nhạt của thầy được nhuộm bởi ánh hoàng hôn nhàn nhạt. Cô bỗng cảm thấy vào thời khắc này, trái tim cô rất gần trái tim thầy Chương. Họ chỉ đứng đó, đối diện nhau mà không nói một lời, nhưng hai tâm hồn quấn quýt, giao hòa.
Cơn gió chiều mát lạnh thổi tới, không khí xung quanh thật trong lành. Liễu Địch đột nhiên phát hiện bầu không khí êm dịu này tỏa ra mùi hương như mùi rượu vang khiến con người chếnh choáng. Cô nhìn ngó xung quanh, sau đó ngạc nhiên, mừng rỡ khi bắt gặp nụ hoa màu tím nhạt trong bồn đinh hương không biết nở rộ từ lúc nào.
Liễu Địch bất giác reo lên như một bé gái ngây thơ: “Thầy Chương, thầy mau lại đây xem đi, đinh hương nở hoa rồi! Đinh hương nở hoa rồi!”
Vừa dứt lời, Liễu Địch liền ôm miệng. Cô hoảng hốt nhìn thầy Chương. Trời ạ, sao cô có thể nói ra những lời này? Thầy Chương lặng lẽ đứng đó. Gương mặt thầy không lộ vẻ tức giận, ngược lại, khóe miệng thầy nhếch lên thành đường cong dịu dàng. Thầy hít mũi như muốn nắm bắt điều gì đó. Thế là Liễu Địch cũng bắt chước thầy, hít thở không khí trong lành. Ờ, trong không khí có mùi thơm của hoa đinh hương, mùi của cây cỏ, mùi của đất cát, mùi hương dìu dịu của chồi non... chúng đều là sinh khí của mùa xuân.
Liễu Địch đưa mắt ngắm nhìn xung quanh. Cô bắt gặp cây dương liễu của mùa xuân, hoa đinh hương của mùa xuân, con đường và bầu trời trong vắt không bị vẩn đục của mùa xuân, ánh tịch dương làm lay động lòng người và con chim nhỏ líu lo trên cành cây... Cuối cùng Liễu Địch cũng cảm nhận thấy không khí của mùa xuân. Mùa xuân đến rồi! Trong lòng tràn ngập sự xúc động khiến Liễu Địch muốn hét to, muốn ca hát, muốn nhảy múa.
Nhưng cô cố gắng kìm nén niềm vui, chuyển ánh mắt về phía thầy Chương. Thầy đang tắm trong ánh chiều tà, trở thành bức tượng điêu khắc màu vàng. Thầy cũng là một phần của mùa xuân. Thầy đứng nghiêm trang, vẻ vô cùng tập trung, tựa như đang cảm nhận mùa xuân bằng tâm hồn. Sau đó, thầy với tay cầm một cành dương liễu, nhẹ nhàng đưa cành dương liễu chạm vào mặt thầy, bình thản thốt ra một câu: “Mùa xuân thật đẹp.”
Giọng điệu bình thản của thầy Chương có vẻ thâm trầm, như nốt nhạc chạy thẳng vào trái tim Liễu Địch khiến cả cơ thể và tâm hồn cô run rẩy. Trong lòng cô dấy lên một tâm tình mãnh liệt. Cô ngước nhìn bầu trời, mặt trời dần khuất bóng nhưng vẫn cháy đỏ rực ở phía xa xa.
Chương 9
“Tháng Bảy đen tối” đáng sợ cuối cùng cũng đến.
Ngày mùng Bảy tháng Bảy, Liễu Địch thức dậy từ sáng sớm. Cô phát hiện ngoài trời đổ mưa, cơn mưa không nhỏ. Nhìn nước mưa chảy thành những đường cong đẹp đẽ trên cửa kính, Liễu Địch phấp khởi mừng thầm. Nghe nói, các sĩ tử ở thời phong kiến khi đi thi chỉ mong trời mưa, trời mưa là điềm lành, dự báo bọn họ “vượt long môn” thành công. Nhưng có nhiều sĩ tử như vậy, ai cũng có thể thành công sao? Liễu Địch cười thầm, trong lòng cô thấy căng thẳng. Tham gia cuộc thi quan trọng như vậy, sao có thể không lo lắng được chứ? May mà môn đầu tiên là môn Ngữ văn. Đối với Liễu Địch, đây là lợi thế. Cô vội vàng ăn hai miếng bánh mì, uống một cốc sữa rồi xuất phát.
Địa điểm thi của Liễu Địch là trường trung học 18, cách nhà cô rất xa. Cô phải lên chuyến xe buýt số 2 mà thầy Chương thường đi để tới địa điểm thi.
Liễu Địch từ chối đề nghị đi cùng của bố mẹ, một mình cô lên xe buýt. Trên xe phần lớn là thí sinh đi thi đại học và phụ huynh đi kèm. Phụ huynh và các bạn học sinh đều mang vẻ mặt nghiêm túc. Mấy người cố tươi cười trò chuyện nhưng cũng không thể che giấu sự hồi hộp, căng thẳng. Không hiểu tại sao, Liễu Địch cảm thấy mình bỗng bị ảnh hưởng bởi không khí căng thẳng này. Nhịp tim của cô dường như đập nhanh hơn bình thường. Kỳ lạ thật, từ trước đến nay cô luôn tự tin, đến mức không cho bản thân đường lùi. Vậy mà hôm nay cô lại thấy hồi hộp.
Bên tai Liễu Địch vang lên câu nói của cô chủ nhiệm: “Cô rất tán thưởng quyết tâm của em, cô cũng tin tưởng vào khả năng của em, nhưng chuyện thi cử không ai lường trước được, cô thật sự không dám tin một trăm phần trăm em thi đỗ.”
Đúng vậy, ai dám chắc một trăm phần trăm rằng mình thi đỗ chứ? Cũng chẳng ai dám bảo đảm với cô, kể cả bố cô. Tối qua, bố Liễu Địch trịnh trọng tặng cô bốn chữ: “Cố gắng hết sức.” Điều đó có nghĩa bố cô cũng không có lòng tin vào cô? Cũng chẳng thể trách ông, bây giờ, ngay cả lòng tin của cô cũng có phần lung lay. Câu khẳng định từ hai tháng trước như vang lên bên tai Liễu Địch: “Em không cho mình đường lùi! Đường lùi đều dành cho người nhu nhược. Em không tin em không thi đỗ!”
Thi cử vô thường! Thi cử vô thường! Liễu Địch tự hỏi bản thân: “Bây giờ mình còn dám nói câu đó không?”
Sắp đến trường trung học 18, Liễu Địch nhìn ra ngoài cửa xe. Bên ngoài lố nhố đầu đen, toàn là thí sinh và phụ huynh. Liễu Địch rất phản đối chuyện phụ huynh đi theo thí sinh tới địa điểm thi. Cô cho rằng phụ huynh đứng bên ngoài chẳng giúp ích gì cho thí sinh, nhiều khi còn phản tác dụng.
Thi đại học là quá trình kiểm nghiệm năng lực của bản thân, không ai có thể giúp bạn, bạn cũng không cần sự giúp đỡ của bất cứ người nào. Vì lý do này, Liễu Địch không cho bố mẹ cô đến điểm thi để “chịu khổ chịu cực”.
Nhưng vào thời khắc này, Liễu Địch có phần hối hận. Thiên binh vạn mã qua cầu độc mộc, đây thật sự là thiên binh vạn mã. Trong khi cây cầu độc mộc mà cô phải vượt qua lại là cây cầu khó khăn nhất. Đang thấy lo lắng và dao động, Liễu Địch hy vọng một ai đó trong biển người kia chờ đợi cô, nói những lời động viên và khích lệ cô.
Nhảy xuống xe buýt, Liễu Địch lặng lẽ đi về phía cổng trường. Không ai đợi cô, không ai an ủi cô, cô chỉ có thể dựa vào bản thân. Đột nhiên, Liễu Địch cảm thấy cơn mưa không còn đẹp đẽ, cũng chẳng phải dự báo điềm lành, mà biến thành hỗn loạn, tơi tả. Nhưng vừa đi được vài bước, Liễu Địch chợt phát hiện một hình bóng quen thuộc đứng dưới tấm biển của bến xe buýt. Cô sững sờ một giây, vội vàng đi đến, gần như không tin vào mắt mình. Trời ạ, đó là thầy Chương!
“Liễu Địch, là em phải không?” Trong tiếng ồn ào, náo nhiệt, thầy Chương vẫn có thể nhận ra tiếng bước chân của của cô. Thầy đứng bất động, trên người thầy khoác chiếc áo mưa màu đen, trong tay thầy cầm một cái ô. Liễu Địch không biết thầy đứng đợi cô bao lâu. Cơn mưa không phải là nhỏ, gương mặt và gấu quần của thầy ướt sũng.
“Thầy Chương!” Viền mắt Liễu Địch nóng lên, cô vô ý thức nắm tay thầy: “Sao... thầy lại đến đây?”
“Em có mang theo giấy báo dự thi không?” Thầy Chương cất giọng trầm trầm.
“Em mang rồi ạ!” Liễu Địch trả lời, giọng run run.
“Ô thì sao?”
“Em cũng mang rồi ạ!” Liễu Địch nhìn chiếc ô chưa mở trong tay thầy Chương.
“Đồ dùng học tập cũng mang đầy đủ rồi chứ?”
“Vâng ạ!”
Hai người im lặng, mặt đối mặt. Liễu Địch cảm thấy bàn tay đang nắm tay thầy Chương của cô run rẩy. Cô thấy cảm động vô cùng. Thầy Chương đội mưa gió đến địa điểm thi chỉ để hỏi cô những điều vụn vặn. Nhưng từ điều vụn vặt đó, Liễu Địch cảm nhận được sự quan tâm to lớn của thầy.
Một hồi chuông vang lên, là tiếng chuông báo hiệu thí sinh vào phòng thi. Liễu Địch quyến luyến buông tay thầy Chương, đi về phía cổng trường.
“Liễu Địch!” Thầy Chương đột nhiên gọi tên cô. Liễu Địch vội dừng bước, quay đầu nhìn lại. Thầy Chương dò dẫm đi đến trước mặt cô, đưa tay ra nắm hai tay cô. "Em hơi căng thẳng, đúng không?" Thầy lại một lần nữa "nhìn" thấu tâm trạng của cô.
"Vâng ạ!" Liễu Địch trả lời. Trước mặt thầy Chương, cô không muốn giấu giếm, cũng không cần giấu giếm.
"Đừng sợ hãi, em hãy bình tĩnh để làm bài cho tốt!" Thầy Chương cất giọng trầm ổn, rõ ràng và kiên định: "Tôi dám dùng sinh mạng để bảo đảm em nhất định sẽ thi đỗ vào Bắc Đại."
Nước mắt ấm nóng dâng tràn lên khóe mắt Liễu Địch khiến tầm nhìn của cô trở nên mơ hồ. Sự cảm động, xúc động và vui mừng bao trùm trái tim cô. Mọi sự căng thẳng và hỗn loạn trước đó như được xua tan hết. Ai nói không ai dám cam đoan cô thi đỗ chứ? Có thầy Chương, hơn nữa thầy còn dùng cả sinh mạng để bảo đảm. Trên đời này liệu có vị phụ huynh, thầy cô và bạn bè nào dám dùng sinh mạng để bảo đảm tiền đồ của người đi thi? Chỉ một mình cô có được điều đó.
Vào thời khắc này, Liễu Địch đột nhiên cảm thấy hai bàn tay to lớn đang nắm tay cô rất kiên định và ấm áp. Thầy Chương đang dùng sinh mạng để bảo đảm, để đổi lấy sự tự tin cô vừa đánh mất.
"Liễu Địch, mau vào phòng thi đi!" Thầy Chương buông tay Liễu Địch. Cô há miệng, muốn nói điều gì đó nhưng cổ họng lại tắc nghẹn. Cô hít một hơi thật sâu, cố gắng kìm nén những giọt nước mắt. Sau đó, cô cắn răng, chạy như bay vào trong trường thi.
Trước khi bước vào cổng trường, Liễu Địch quay đầu nhìn lại. Qua làn nước mắt, trong cơn mưa mờ mịt, cô nhìn thấy thầy Chương đứng bất động, như hóa thành bức tượng đá màu đen, như ngọn tháp thẳng đứng. Trong lòng Liễu Địch dấy lên một niềm tin không chút dao động, niềm tin tất thắng.
Chương 10
Sau khi nộp bài thi môn cuối cùng, Liễu Địch cũng như các thí sinh khác trong phòng thi đều thở phào nhẹ nhõm. Phòng thi vô cùng nóng bức, cô không thể ở lại lâu hơn nên nhanh chóng rời khỏi đó.
Đi ra sân trường, ngẩng đầu ngắm nhìn bầu trời trong xanh và vầng mây trắng trôi lững lờ, Liễu Địch bỗng có cảm giác như một thế kỷ đã trôi qua. Cô thật sự không dám tin kỳ thi cô mất bao công sức chuẩn bị một thời gian dài, bây giờ đã trở thành "thì quá khứ". Bên tai cô vẫn là tiếng ngòi bút làm bài thi loạt soạt, trước mắt cô vẫn là đề thi in chữ dày đặc...
Ba ngày qua, Liễu Địch cảm thấy cô đã rơi vào trạng thái "quên mất bản thân". Cô cảm thấy mình như đi vào một khu rừng rậm, cây cối rợn ngợp. Cô đã quen với trạng thái này nên bây giờ đột nhiên được giải phóng, cô lại mất phương hướng. Liễu Địch đảo mắt một lượt quanh sân trường như muốn tìm kiếm điều gì đó, lập tức nhìn thấy thầy Chương đang đứng bên cạnh bồn hoa.
Liễu Địch nhanh chóng chạy đến bên thầy Chương, trong lòng cô bỗng trào dâng một niềm vui khó tả. Cô chẳng nói chẳng rằng, nắm chặt hai tay thầy.
Ba ngày vừa qua, mỗi khi thi xong một môn, Liễu Địch đều vô thức tìm kiếm hình bóng thầy Chương. Nhưng kể từ hôm đầu tiên gặp cô ở bên ngoài điểm thi, thầy không xuất hiện thêm một lần nào nữa. Hôm nay, được gặp thầy sau khi kết thúc môn thi cuối cùng, trái tim Liễu Địch như bay bổng. Cô chợt nhận ra người cô muốn gặp nhất sau khi thi xong không phải là bố mẹ, mà là thầy Chương.
"Em làm bài thế nào?" Thầy Chương vẫn bình thản như thường lệ, giọng thầy không bộc lộ tâm trạng vui mừng hay mong mỏi.
"Em cảm thấy mình làm bài rất tốt." Liễu Địch không hề thấy buồn. Cô đã quen với giọng điệu của thầy, biết nó chẳng nói lên điều gì.
"Bài làm văn ra đề gì?"
"Lấy một bối cảnh hay địa điểm cố định làm tiêu đề, sau đó kể lại câu chuyện hoặc nhân vật có liên quan một cách chân thực, bày tỏ tình cảm chân thành và sâu sắc của mình."
"Hả?" Thầy Chương hơi bất ngờ. "Không phải là văn nghị luận. Vậy tiêu đề bài làm của em là..."
"Bến xe." Liễu Địch nói nhỏ.
Thầy Chương hơi sững người, như bị chấn động. Hai từ "bến xe" như chạm đến một sợi dây thần kinh nào đó của thầy. Thầy trầm mặc một lúc như đang suy tư.
Liễu Địch thấp thỏm, bất an. Cô chợt nhớ tới bài văn "0 điểm" viết về thầy của mình. Không biết thầy Chương sẽ phê bình cô thế nào?
Một lúc sau, thầy Chương lên tiếng, giọng rất bình tĩnh và quả quyết: "Liễu Địch, bài văn của em chắc chắn sẽ đạt điểm cao."
Một câu nói đáng vui mừng biết bao! Nỗi lo nơm nớp trong lòng Liễu Địch tan biến, khóe miệng cô cong lên. Cô tươi cười, rạng rỡ. Nụ cười ngây thơ, chân thành và đáng yêu của cô khiến đám nam sinh vô thức quay đầu, ngây ngốc ngắm nhìn.
Chỉ có thầy Chương là thờ ơ, bởi vì đối với người khiếm thị, vẻ đẹp bề ngoài không tồn tại bất cứ sự mê hoặc nào. "Hãy đưa tôi ra bến xe." Thầy nói khẽ, ngữ điệu ra lệnh như thường thấy. "Tôi muốn về nhà."
Về nhà? Nụ cười của Liễu Địch cứng đờ trên khóe môi. Cô cảm thấy hơi thất vọng, cô còn rất nhiều điều muốn tâm sự với thầy, vậy mà thầy lại muốn về nhà.
Về nhà? Liễu Địch mơ hồ ngẫm nghĩ. Không biết nhà của thầy Chương thế nào? Không cha mẹ, không vợ con, không người thân, chỉ một mình thầy đối diện với bốn bức tường lạnh lẽo. Đó là nơi thầy chìm trong bóng tối cô độc, chứ đâu phải là "nhà". Liễu Địch buột miệng nói: "Thầy Chương, em muốn đến thăm nhà thầy."
Vừa dứt lời, Liễu Địch giật mình kinh hãi, cô bụm miệng, không ngờ mình lại có ý nghĩ này, lại thốt ra câu nói này. Thầy Chương quả nhiên nhíu chặt lông mày. "Liễu Địch!" Giọng thầy lạnh lùng như tiếng vọng từ núi băng. "Tôi không hoan nghênh bất cứ người nào đến nhà tôi, tất nhiên có cả em."
Liễu Địch co rúm người. Thầy có phản ứng kịch liệt như vậy, cô không cảm thấy kỳ lạ, cũng không thấy cụt hứng, tất cả trong định liệu của cô. Nhưng... "nhà" của thầy Chương rốt cuộc như thế nào? Liễu Địch nhắm mắt, cố gắng tưởng tượng ra ngôi nhà lãnh lẽo đó. Câu nói vừa thốt ra miệng cứ quanh quẩn trong đầu cô, không tan biến. Tuy nhiên, Liễu Địch biết cô không thể "thỉnh cầu" thầy Chương một lần nữa.
Cô lặng lẽ đưa thầy Chương ra bến xe. Chỉ là sau khi thầy Chương lên xe, Liễu Địch cũng theo dòng người, lên chiếc xe buýt thầy vừa lên.
Trên xe chật cứng phụ huynh và thí sinh. Mấy bạn học cùng lớp nhìn thấy Liễu Địch định lên tiếng chào hỏi, Liễu Địch vội đưa tay lên môi, "suỵt" một tiếng, ra hiệu mọi người im lặng. Thầy Chương xuống xe ở một trạm xe buýt nhỏ, Liễu Địch đi theo thầy trong ánh mắt ngạc nhiên của các bạn.
Đi một đoạn, thầy Chương rẽ vào một con ngõ hẹp. Hai bên mặt ngõ là những ngôi nhà mái ngói thấp. Nhà nào cũng đóng chặt cửa, bên ngoài có sợi dây thép phơi quần áo, chăn ga trải giường, tã lót... Có lẽ do buổi chiều nắng gắt, ở đây vô cùng yên tĩnh. Ngõ nhỏ ngoằn ngoèo, có lúc tưởng như sâu hút nhưng lại xuất hiện một lối rẽ. Liễu Địch cảm thấy cô sắp lạc đường, trong khi thầy Chương đi rất nhanh, tựa hồ thầy đã quen thuộc với ngõ nhỏ như trong lòng bàn tay. Liễu Địch chỉ còn cách bám theo thầy, cô sợ chỉ một giây thiếu tập trung, cô sẽ để mất dấu thầy. Nhưng cô cũng không dám tiến lại quá gần, sợ bị thầy phát hiện.
Mấy lần thầy Chương đang đi, đột nhiên hơi ngoảnh đầu. Liễu Địch theo phản xạ tránh sang một bên. Nghĩ lại, cô mới thấy phản ứng của mình là thừa. Mắt thầy Chương không nhìn thấy, nhưng cô thường quên mất điều này. Trong ý thức, cô chưa bao giờ coi thầy là người mù.
Cuối cùng, thầy Chương dừng lại bên một cây hòe già. Đằng sau cây hòe là một bức tường gạch bao quanh một cái sân nhỏ. Dưới gốc cây hòe già có cái ghế đung đưa, một bà lão đang ngồi trên ghế chải đầu. Bà lão mắt nhắm mắt mở, ngáp dài ngáp ngắn. Thầy Chương đi vào sân nhỏ. Liễu Địch cũng đi theo thầy vào bên trong. Trước mặt cô là ba gian nhà mái bằng, cửa ra vào của hai gian đều mở toang, chỉ có một gian đóng chặt. Thầy Chương đi về phía gian nhà đó, thầy rút chìa khóa, mở cửa một cách thành thạo rồi đi vào trong nhà. Sau đó, Liễu Địch nghe thấy tiếng đóng sập cửa. Cánh cửa lại khép chặt.
Liễu Địch tần ngần đứng trước cánh cửa đóng kín. Cô hiếu kỳ quan sát ngôi nhà. Ngôi nhà được xây bằng gạch đỏ, diện tích xem ra cũng không nhỏ. Hai gian nhà phía đông có vẻ nhỏ hơn. Cánh cửa gỗ quét sơn màu xanh da trời đã bay màu trở thành nền trắng. Gần cửa ra vào là cửa sổ nhỏ bằng kính. Đằng sau lớp kính là rèm cửa khá dày, che hết mọi thứ bên trong.
Đằng sau cánh cửa này là một thế giới như thế nào? Liễu Địch đột nhiên chột dạ. Cô giơ tay định gõ cửa, nhưng vừa chạm vào cánh cửa, cô liền rụt tay về.
"Vào đi Liễu Địch, cửa không khóa đâu." Một giọng nói trầm thấp từ bên trong vọng ra. Liễu Địch giật mình hoảng hốt, tim đập thình thịch. Thầy Chương đã phát hiện ra cô, không biết thầy phát hiện ra từ lúc nào? Có lẽ từ lúc cô lên xe buýt? Trời ạ, thầy đúng là "sáng mắt sáng lòng"!
Bà lão vừa chải đầu ở bên gốc hòe thò đầu vào trong sân, nhìn Liễu Địch bằng ánh mắt tò mò. Liễu Địch không do dự đẩy cửa, bước vào nhà. Cô sững người trong giây lát.
Căn nhà tối om. Dù có tia nắng chiếu qua khe cửa, Liễu Địch cũng chỉ có thể phân biệt đường nét của đồ vật. Hình bóng của đống đồ vật như quái vật to lớn, mai phục ở một góc nào đó, chuẩn bị lao vào cô. Ngoài ra, trong bóng tối còn lan tỏa luồng khí u ám khiến Liễu Địch cảm thấy khó thở. Đúng rồi, các cánh cửa đều đóng kín, không khí không được lưu thông. Sau đó, trong bóng tối vang lên tiếng nói của thầy Chương: "Em có thể kéo rèm cửa sổ, Liễu Địch. Tôi đóng kín rèm cửa là bởi tôi không muốn người khác nhòm ngó vào nhà tôi bằng ánh mắt tò mò kỳ quái. Tôi càng không muốn nghe những tiếng thì thầm bàn tán của bọn họ. Tôi không nhìn thấy nên cũng chẳng cảm thấy phiền não, nhưng tôi không muốn cho họ cơ hội. Tất nhiên em cũng có thể bật đèn, nhưng em phải tự tìm chỗ công tắc. Tôi không còn nhớ công tắc nằm ở chỗ nào."
Có lẽ do ảnh hưởng bởi không khí trong nhà, giọng thầy trở nên nặng nề. Liễu Địch không đợi thầy nói lần thứ hai, lập tức chạy về phía cửa sổ, kéo tung rèm cửa rồi mở toang cánh cửa sổ.
Sau đó, cô lại mở cửa sổ ở hướng nam. Luồng không khí trong lành ùa vào nhà, cả ngôi nhà chìm trong ánh sáng chói lòa. Ánh sáng bất chợt khiến Liễu Địch nhắm mắt lại theo phản xạ, trong khi thầy Chương vẫn bất động. Lòng Liễu Địch chùng xuống. Thầy không có một chút cảm giác với ánh sáng. Tiếp theo, Liễu Địch quan sát cả ngôi nhà.
Ngôi nhà quả thực không nhỏ, nhưng rất chật chội, bởi hai bên tường toàn là giá sách. Giá sách rất cao, gần như chạm trần nhà. Trên giá sách xếp rất nhiều sách, khổ to, nhỏ, độ dày, mỏng khác nhau. Vì những giá sách này, ngôi nhà không còn nhiều diện tích trống. Bên cửa sổ hướng nam đặt một chiếc bàn làm việc và một cái ghế mây. Trên bàn làm việc có chiếc đèn bàn màu xanh lục. Bên cạnh đèn bàn là ấm trà, tách trà nhỏ và chiếc đồng hồ để bàn cũng màu xanh lục. Bên cạnh bàn làm việc là một chiếc giường đơn và một hòm gỗ nhỏ. Ga trải giường màu xanh lá cây nhàn nhạt, trên hòm gỗ cũng được phủ một miếng vải cùng màu. Ga trải giường và miếng vải đó có vẻ thường xuyên được giặt, nhưng vẫn có mấy vết bẩn, chứng tỏ người giặt không nhìn thấy. Trên vỏ gối và vỏ chăn cũng có vài chỗ chưa giặt sạch. Trên bức tường ở hướng bắc của căn nhà treo đầy những bức tranh màu nước và tranh sơn dầu. Một số được lồng trong khung kính, một số cứ thế treo lên. Ở góc mỗi bức tranh đều đề tên, có lẽ không phải tác phẩm của bố thầy Chương thì cũng là của thầy.
Dưới cửa sổ hướng bắc có một cái bếp ga, bồn rửa mặt và hai thùng mì ăn liền lớn. Trong ngôi nhà này không có gạo và mì sợi, không có rau cỏ và hoa quả. Nền nhà được quét dọn sạch sẽ, nhưng ở các góc nhà vẫn xuất hiện không ít đồ lặt vặt, không phải chủ nhân lười biếng mà không phát hiện ra. Ngôi nhà có vẻ được bày trí rất đơn giản nhưng lại không đơn giản chút nào.
Năm năm trước, nơi này chắc rất tao nhã và thi vị. Bây giờ, nét "tao nhã" và "thi vị" đó chỉ còn là hình bóng mơ hồ. Bao trùm cả ngôi nhà là không khí lạnh lẽo, cô độc, tĩnh mịch và có phần thê lương.
Liễu Địch quan sát một lượt. Không hiểu tại sao sống mũi cô cay cay, trong lòng dâng lên cảm giác chua xót. Ngôi nhà này khiến cô nhận thức một cách sâu sắc nỗi bi ai của người khiếm thị. Cô cũng có thể cảm nhận thấy thầy Chương sống rất nghiêm túc. Thầy không sa ngã hay chà đạp bản thân như những người gặp tai họa bất ngờ khác. Trong ngôi nhà này, dù thầy không nhìn thấy, dù thầy không cho người khác vào nhưng thầy vẫn cố gắng giữ sạch sẽ. Tuy nhiên, cuộc sống của một người mù cô độc không thể tốt như cuộc sống của người thường, trừ khi nhận được sự quan tâm, chăm sóc từ người khác.
Thầy Chương ngồi trên ghế mây bên bàn làm việc, cuối cùng cũng lên tiếng: "Tôi đoán em sẽ đi theo tôi. Tôi từng nói em rất cố chấp, cố chấp giống tôi. Bây giờ, em đã nhìn thấy nhà của tôi rồi, tất cả đều đơn giản, đúng không? Nhà của người mù không thể phức tạp, bởi anh ta không thể ứng phó với sự phức tạp, anh ta không thể thoát khỏi bóng tối vô tận. Anh ta có thể đánh bại vô số kẻ địch nhưng vĩnh viễn không thể đánh bại được bóng tối."
Giọng nói của thầy mang vẻ tự giễu, đồng thời không che giấu tâm trạng thê lương và bất lực. Câu nói của thầy như bàn tay vô hình bóp nghẹt trái tim Liễu Địch, nỗi bi thương lan tỏa trong lòng cô. Liễu Địch bỗng cầm cái chậu trên bồn nước, quay người đi ra sân.
"Liễu Địch, em định làm gì vậy?" Thầy Chương kinh ngạc kêu lên, gương mặt thầy không còn sự nghiêm nghị và lạnh nhạt như thường thấy nữa.
Liễu Địch không trả lời. Cô đi hứng một chậu nước, sau đó rút ga trải giường và miếng vải màu xanh lục phủ trên chiếc hòm gỗ, bỏ vào chậu nước.
"Liễu Địch!" Thầy Chương lại hét lên. Thầy không nhìn thấy nhưng vẫn có thể đoán biết Liễu Địch đang làm việc nhà: "Em hãy bỏ xuống! Tôi không cần em giúp đỡ!" Vẻ mặt thầy vụt qua một tia bất an.
Liễu Địch không đáp. Cô tìm thấy miếng gỗ dùng để giặt quần áo và bột giặt ở dưới gầm giường, sau đó bắt đầu giặt ga trải giường.
"Liễu Địch, dừng tay!" Thầy Chương cất cao giọng, giọng thầy thể hiện sự sốt ruột và khổ não, nhưng không tức giận. Trả lời thầy là tiếng cọ giặt loạt xoạt. Sau đó, thầy Chương thở dài, cất giọng bất lực: "Liễu Địch, việc gì em phải làm vậy hả?"
Liễu Địch hơi ngẩn người, nhưng động tác tay của cô vẫn không ngừng nghỉ. Cô nhanh chóng giặt xong ga trải giường và tấm vải. Sau đó, cô bắt đầu giặt vỏ chăn, vỏ gối và đống quần áo thầy Chương thay ra, chưa kịp giặt. Từ nhỏ đến lớn, Liễu Địch chưa bao giờ giặt nhiều đồ như vậy. Cuối cùng, cô hơi thở dốc nhưng cố gắng kìm nén, không để phát ra tiếng thở nặng nề. Thầy Chương lặng lẽ ngồi trên chiếc ghế mây, gương mặt thầy trầm tư. Không biết bao lâu sau, thầy lẩm bẩm: "Liễu Địch, em đang giúp tôi đánh bại bóng tối đúng không? Nhưng bóng tối của người mù quá nặng nề, em có thể giúp được đến đâu? Em có thể giúp được bao lâu?"
Liễu Địch thẫn thờ, cô nhận ra sự hiu quạnh trong giọng nói trầm thấp và bình tĩnh của thầy Chương. Cô bất giác nhướng mắt nhìn thầy, vẻ mặt thầy vẫn vô cảm. Bên tai Liễu Địch chợt vang lên câu nói của hiệu trưởng Cao gần một năm trước: "Cô bé, thầy không thể tưởng tượng sau khi em tốt nghiệp, thầy Chương sẽ thế nào?"
Lúc đó, tốt nghiệp còn là chuyện xa vời. Nhưng hôm nay cô đã thật sự tốt nghiệp, cô có thể giúp thầy được đến đâu, có thể giúp thầy bao lâu? Lần đầu tiên trong đời, Liễu Địch cảm nhận được mùi ly biệt. Một giọt lệ âm thầm từ khóe mắt Liễu Địch chảy dài, rơi xuống chậu nước, hoàn toàn tan biến.
Sau khi giặt xong đồ và phơi lên dây thép ở ngoài sân, Liễu Địch giúp thầy Chương lau giá sách, dọn dẹp nhà cửa. Cô kinh ngạc phát hiện, giá sách không hề có bụi, rõ ràng chúng thường xuyên được lau chùi. Thầy Chương không thể đọc sách, nhưng thầy vẫn dày công nâng niu, bảo vệ những cuốn sách này. Sách được phân loại và sắp xếp đâu vào đấy, phần lớn là sách văn học, sách lịch sử, nghệ thuật và triết học cũng chiếm diện tích không nhỏ. Những cuốn sách Liễu Địch biết đến thầy đều có. Liễu Địch còn phát hiện, có tới ba giá sách đều là sách ngoại văn, đa phần là sách tiếng Anh và tiếng Pháp, một số cuốn tiếng Tây Ban Nha. Liễu Địch há hốc miệng, không biết phải nói gì.
Liễu Địch lại ngó qua khu vực văn học cổ điển: Kinh thi[1], Sở từ[2], Bách gia chư tử[3], Lịch sử tản văn, Nhị thập tứ sử[4], Hàn nhạc phủ, Đường thi, Tống từ, Nguyên khúc, tiểu thuyết Minh - Thanh, các loại luận văn, tuyển tập của tám tác giả tản văn lớn đương đại... Trời a, loại nào cũng có đầy đủ. Kho sách này có thể so sánh với số sách của bố cô, một người chuyên nghiên cứu văn học cổ điển sưu tầm.
[1] Bộ tổng tập thơ ca vô danh của Trung Quốc, một trong năm bộ sách kinh điển của Nho giáo.
[2] Sở từ: là một thể thơ do nhà thơ Khuất Nguyên thời Chiến Quốc sáng tạo ra.
[3] Thời kì chứng kiến sự mở rộng to lớn về văn hóa và trí thức ở Trung Quốc, kéo dài từ năm 770 đến năm 222 TCN. Trùng khớp với giai đoạn Xuân Thu - Chiến Quốc, nó cũng được gọi là thời đại hoàng kim của tư tưởng Trung Quốc và thời kỳ "trăm nhà đua tiếng này" chứng kiến sự nảy nở của nhiều trường phái tư tưởng khác nhau.
[4] Tuyển tập các cuốn sách sử Trung Quốc bao quát giai đoạn lịch sử từ năm 3000 TCN tới cuối thời nhà Minh vào thế kỷ 17. Toàn bộ có 3213 tập, khoảng 40 triệu chữ. Nó thường được coi là một nguồn dữ liệu chính xác về truyền thống lịch sử và văn hoá Trung Quốc.
Liễu Địch ngẩng đầu, hai má đỏ bừng, mắt sáng rực. Cô không thể kiềm chế, thốt lên một câu: "Thầy Chương, thầy sở hữu một kho báu, một kho báu thật sự!"
"Ý em là những cuốn sách đó phải không?" Thầy Chương tựa hồ bừng tỉnh khỏi nỗi trầm tư. "Đây đúng là một kho báu. Thời đi học, có bao nhiêu tiền tôi dốc ra mua sách hết. Để kiếm tiền mua sách, tôi từng đi làm thuê, làm gia sư, thậm chí có lúc bán cả quần áo của mình...Việc làm sáng suốt nhất của tôi là không để sách ở nhà bố mẹ, mà để ở đây nên chúng mới thoát khỏi trận hỏa hoạn đó. Tuy bây giờ không thể đọc chúng nhưng tôi vẫn cảm thấy rất may mắn. Sau khi tôi bị mù, nhiều người khuyên tôi bán chỗ sách này đi. Người của thư viện còn đến tận đây thuyết phục tôi nhưng tôi không đồng ý. Sao tôi có thể bán chúng được cơ chứ?"
Liễu Địch trầm mặc. Cô hiểu một cách sâu sắc tình cảm của thầy Chương. Đúng vậy, sao có thể đem bán sách chứ? Những cuốn sách này đánh dấu khoảng thời gian đẹp đẽ nhất trong cuộc đời thầy Chương, thấm biết bao giọt mồ hôi và tâm huyết của thầy, lưu giữ tuổi thanh xuân và ước mơ của thầy, thể hiện tư tưởng và niềm tin của thầy... Chúng không chỉ đơn thuần là những cuốn sách vô tri vô giác mà đã trở thành một phần sinh mệnh của thầy. Thầy làm sao nỡ cắt bỏ sinh mệnh của mình?
Thầy Chương lại chìm trong hồi ức. Tâm tình nằm sâu trong ký ức của thầy bây giờ đang từ từ tuôn chảy như dòng suối nhỏ:
"Lúc đó, tôi yêu sách như sinh mạng. Kiếm được một cuốn sách hay, tôi sẽ đọc nó quên ăn quên ngủ. Ở Bắc Đại có một giáo sư đặc biệt tin tưởng vào việc học thuộc lòng. Ông cho rằng, những trường tư thục ở thời phong kiến đã đào tạo ra nhiều nhân tài qua việc bắt học trò đọc thuộc lòng, tự nhiên sẽ nghiệm ra được nhiều đạo lý. Tôi cũng bị ảnh hưởng bởi vị giáo sư đó. Phàm là sách hay, những bài văn hay, tôi đều đọc thuộc. Tất nhiên tôi không học thuộc một cách cứng nhắc, mà vừa đọc vừa cảm nhận. Bây giờ tôi thực sự cảm kích vị giáo sư ấy. Sau khi tôi bị mù, chính những cuốn sách in sâu trong đầu đã giúp tâm hồn và tư tưởng của tôi không bị khô cạn. Tôi "đọc" chúng mỗi ngày, đọc đi đọc lại nhiều lần... Nếu không đọc, làm sao tôi có thể tiếp tục sống đây?"
Liễu Địch bị lây nhiễm bởi tình yêu xuất phát tự đáy lòng đối với sách và tri thức của thầy Chương. Cô chợt nhớ tới buổi lên lớp đầu tiên của thầy. Thảo nào các bạn không thể làm khó thầy. Ở trước mặt thầy Chương, chúng quả thực quá nông cạn.
Sau khi dọn dẹp giá sách, Liễu Địch lại lau chùi bàn làm việc. Cô phát hiện một máy nghe băng cát xét và mười mấy cuộn băng ở trong ngăn kéo. Nghe thấy tiếng mở ngăn kéo, thầy Chương vội ngăn lại: "Liễu Địch, em đừng động vào những cuộn băng đó. Đây là băng ghi âm giáo trình đại cương, tài liệu tham khảo và phương pháp dạy học của môn Ngữ văn cấp ba. Mỗi tối, tôi đều nghe những cuộn băng này. Nếu em làm lộn xộn, tôi sẽ không tìm thấy cuộn băng tôi cần."
Liễu Địch thè lưỡi, lập tức đóng ngăn kéo lại. Cô thầm nghĩ thầy Chương nhờ người ghi âm những tài liệu này không biết tốn bao công sức. Thầy quả thực là một thầy giáo tốt.
Sau đó, ánh mắt cô dừng lại ở những bức tranh treo trên bức tường phía bắc. Những bức tranh đó rõ ràng không được thầy Chương trân trọng như đống sách bởi chúng phủ đầy bụi. Liễu Địch tìm một miếng vải khô mềm, nhẹ nhàng lau hết bụi trên những bức tranh, trả lại diện mạo thực sự cho chúng.
Mỗi khi lau sạch một bức tranh, Liễu Địch không khỏi cảm thán trong lòng. Cô không hiểu về hội họa, không thể đánh giá những bức tranh này, nhưng cô có thể cảm nhận rõ ràng, trong mỗi bức tranh ẩn chứa một sức mạnh, một sức mạnh không thuộc về kỹ thuật hội họa mà thuộc về sinh mệnh, tình cảm và tâm hồn.
Sức mạnh này khiến Liễu Địch cảm động. Nó rốt cuộc là gì? Cô trầm tư suy ngẫm, ánh mắt vô tình dừng lại ở hai bức tranh sơn dầu lớn chạm cả xuống mặt đất. Liễu Địch bị chấn động trong giây lát.
Đây là hai bức tranh khác nhau. Một bức vẽ đại dương mênh mông. Người vẽ sử dụng gam màu lam thẫm. Sóng biển cuộn trào thành từng bông hoa sóng. Bên trên là bầu trời xám mờ và tầng mây nhàn nhạt. Bức tranh không có mặt trời, cũng không có cánh chim bay. Bên bờ biển là một bãi cát nhỏ. Trên bãi cát có một cành cây khô cằn cỗi và thô ráp nằm cô độc. Sóng biển lấp chìm một nửa cành cây. Nhưng ở giữa chạc cây lại nhú lên một chồi non nho nhỏ màu xanh lục khiến cả bức tranh ảm đạm như có sinh khí, tỏa ra một sức mạnh thuộc về sinh mệnh khó diễn tả thành lời.
Bức tranh sơn dầu còn lại vẽ mặt trời sắp lặn trên biển. Mặt biển hiền hòa, ánh hoàng hôn màu vàng rực rỡ. Nơi tiếp giáp giữa trời và biển có chùm mây rực rỡ và ông mặt trời đỏ rực, trông huy hoàng nhưng cũng rất u sầu. Ông mặt trời như quả tim tích tụ mọi huyết quản, sau đó giải phóng hết năng lượng, đốt cháy sự tôn nghiêm, niềm hy vọng, tình yêu của nhân loại, cho đến khi trái tim đó cháy hết.
Liễu Địch ngẩn ngơ ngắm hai tác phẩm làm rung động lòng người đó. Cô đứng bất động, cũng không nói chuyện, thất thần ngắm tranh. Cô như chìm trong những cảm xúc kỳ lạ và chấn động. Trong lòng cô vụt qua tia mờ mịt, chua xót, bi tráng... Cô không thể nói rõ tâm trạng của mình lúc này.
Nhưng Liễu Địch đột nhiên hiểu ra, sức mạnh ẩn chứa trong tranh của thầy Chương chính là "sinh mệnh", chính là tình yêu mãnh liệt đối với sinh mệnh. Sinh mệnh dẻo dai, sinh mệnh tươi mới, sinh mệnh đầy tôn nghiêm, sinh mệnh cao quý, sinh mệnh không khuất phục, sinh mệnh không thể bị hủy diệt và sỉ nhục... đều được thể hiện trong tác phẩm của thầy. Thầy không vẽ bằng cọ vẽ mà dùng tư tưởng, tình cảm và tâm hồn để vẽ tranh.
"Liễu Địch, em đang làm gì vậy?" Thầy Chương đột nhiên lên tiếng, phá vỡ bầu không khí tĩnh lặng.
"Em đang xem tranh ạ!" Liễu Địch vẫn chìm đắm trong cảm xúc của mình.
"Bức nào?"
"Mặt trời lặn trên biển."
"Em có cảm giác gì không?"
"Bi tráng như sự cảm thán của người anh hùng ạ!"
Gương mặt thầy Chương hơi rung động.
"Thầy Chương, thầy rất thích biển đúng không ạ?" Liễu Địch hỏi nhỏ.
"Đúng vậy, tôi rất thích." Thầy Chương lại chìm trong hồi ức. "Tôi còn nhớ lần đầu tiên tôi nhìn thấy biển. Đó là kỳ nghỉ hè năm lớp 11, một mình tôi đi đến làng chài nhỏ ở Yên Đài, sống nhờ nhà một bà lão ở đó. Lúc bấy giờ, khi nhìn thấy mặt biển mênh mông, vô cùng vô tận, tôi mới nhận thức được thế nào là bao la, bát ngát. Đứng trước biển, tôi cảm thấy mình nhỏ bé vô cùng. Thế là cả kỳ nghỉ hè năm đó, tôi đeo ống vẽ tranh, đi lang thang dọc bờ biển dài không biết bao nhiêu cây số. Có lúc tôi chẳng làm gì cả, chỉ ngồi trên mỏm đá mấy tiếng đồng hồ, nhìn ra biển. Những lúc như vậy, đầu óc tôi trống rỗng, tâm hồn tĩnh lặng, lý trí chìm trong hư vô, quên cả bản thân." Thầy Chương thở khẽ, sau đó lại cất giọng thâm trầm mà xúc động: "Em có biết không, biển là kiên cường nhất. Nó có thể bao dung mọi nỗi đau khổ và bất hạnh của con người."
Liễu Địch đã hoàn toàn hóa đá. Từ trước đến nay thầy Chương hết sức kiệm lời, vậy mà bây giờ thầy lại tâm sự nhiều như vậy. Có thể thấy đã từ rất lâu, thầy không nhắc đến ký ức đã phủ bụi mờ với người khác.
"Đến bây giờ tôi vẫn nhớ rõ mọi thứ ở biển." Thầy Chương nói tiếp: "Tôi vẫn nhớ những mỏm đá lởm chởm, đủ hình thù sinh động, đâu đâu cũng có dấu vết của ngọn sóng xô vào... Còn bãi cát bên bờ biển, vừa mịn vừa trắng, lấp lánh dưới ánh mặt trời, giống như vô số vì sao vỡ vụn. Trên bãi cát còn có nhiều vỏ sò, tuy không hoàn chỉnh nhưng được sóng biển gột rửa sạch sẽ. Vỏ sò thiên hình vạn trạng, đủ loại màu sắc, trắng như tuyết, đỏ như máu, tím như vầng mây cuối cùng ở trên không trung trước khi trời tối..."
Liễu Địch reo lên: "Đẹp quá, em cũng muốn đi xem!"
"Biển có rất nhiều thứ đáng chiêm ngưỡng và khám phá." Thầy Chương có vẻ thất thần. "Mặt trời mọc trên biển là thời khắc đẹp nhất. Vô số tia sáng vàng tỏa ra từ chân trời tối đen. Tiếp theo là mặt trời đỏ rực như quả cầu lửa nhô ra khỏi vầng mây rực rỡ, từ từ bay lên cao, lên cao mãi... cho đến khi em không thể nhìn thẳng vào nó. Còn mặt biển từ mờ mờ chuyển thành màu đỏ, rồi từ màu đỏ chuyển thành những con sóng trắng xóa. Quá trình thay đổi này rất kỳ diệu, đến mức em như cảm thấy ngừng thở. Ngoài ra, đến khi trời tối, mặt biển mang một màu đen, những vì tinh tú lấp lánh trên bầu trời dệt thành bức tranh mộng ảo."
Liễu Địch nín thở lắng nghe, sau đó cô không thể kìm nén tâm trạng xúc động: "Em muốn ngắm biển, muốn ngắm biển ngay lập tức!"
"Tôi cũng vậy... tôi rất muốn... muốn ngắm biển một lần." Ngữ điệu của thầy Chương đột nhiên trở nên lạ thường, lông mày của thầy nhíu chặt, giọng run run. "Tôi muốn nhìn thấy biển. Thật đấy, tôi muốn lại được nhìn thấy sóng biển cuộn trào, gió biển rì rào, chim hải âu vỗ cánh. Tôi muốn nhìn thấy những ngọn sóng nhấp nhô, bầu trời trong xanh và làn mây trắng. Thật đấy, có lúc mặt biển như tấm thảm nhung màu xanh khiến tôi chỉ muốn nằm ngủ trên đó, lăn lộn trên đó. Còn cả ánh hoàng hôn khi mặt trời lặn, ngọn hải đăng và những cánh buồm về bến. Tôi muốn nhìn thấy con dã tràng trên bờ cát... Nếu tôi có thể được nhìn một lần, cho dù một lần, tôi cũng..." Thầy Chương đột ngột dừng lại, gương mặt co rúm, tái mét.
Nhưng chỉ vài giây sau, thầy lại lấy lại vẻ bình tĩnh như chưa từng có chuyện gì xảy ra. "Tôi xin lỗi, Liễu Địch, tôi nói hơi nhiều." Thầy nói: "Em có biết không? Những lúc cô độc, tôi thường hồi tưởng lại cảnh tượng này. Nhưng mỗi năm trôi qua, tôi chợt phát hiện những hình ảnh đó ngày càng trở nên mơ hồ trong trí óc. Tôi sống trong thế giới không ánh sáng, không màu sắc. Trong thế giới này, tôi không thể đi ra, người khác cũng không thể bước vào. Trong bóng tối vô tận, ký ức của tôi về ánh sáng và màu sắc từ từ biến mất. Tôi nghĩ vài năm sau, có lẽ những hình ảnh sống động đó sẽ chỉ còn là một mớ hỗn độn trong trí não tôi mà thôi."
Sống lưng Liễu Địch lạnh buốt, cô cảm thấy từng tế bào của tâm hồn đều run rẩy. Thế giới không màu sắc là thế giới như thế nào? Thế giới không ánh sáng là thế giới ra sao? Một người từ nhỏ đã vô cùng nhạy cảm với ánh sáng và màu sắc như thầy Chương làm thế nào để chịu đựng cuộc sống không màu sắc và ánh sáng? Liễu Địch hối hận vì đã gợi mở ký ức của thầy. Điều này nhất định sẽ đụng chạm đến nỗi đau từ đáy sâu tâm hồn thầy. Cô nhanh chóng rời mắt khỏi những bức họa, đi dọn dẹp đồ dưới gầm giường của thầy Chương.
Dưới gầm giường chất đầy giá vẽ, bút lông, hộp màu và cả những tờ giấy trắng chưa sử dụng. Đối với thầy Chương, những thứ này không còn tác dụng nữa. Liễu Địch cố gắng dồn hết chúng về một bên, để có chỗ chứa những những đồ khác.
Liễu Địch đột nhiên phát hiện một cây guitar dưới đống giấy vẽ. Cây guitar bám đầy bụi, dây đàn đã bị gỉ, chứng tỏ một thời gian dài không ai đụng đến nó. Liễu Địch lôi cây đàn ra khỏi gầm giường, hồ hởi reo lên như phát hiện ra lục địa mới: "Thầy Chương, thầy biết chơi guitar ạ?"
"Tôi có học một thời gian." Thầy Chương gật đầu. "Thời gian học ở Bắc Đại, trong phòng ký túc của tôi có một cậu chơi guitar rất giỏi. Tôi học từ cậu ấy. Tôi từng bỏ nhiều công sức và nhiệt huyết vào cây guitar. Nhưng sau khi bị mù, tôi không động đến nó, tính ra cũng năm năm rồi. À..." Thầy Chương đột nhiên hiểu ra vấn đề. "Em tìm thấy cây đàn của tôi, đúng không?"
Liễu Địch không trả lời. Cô ngắm nhìn cây đàn đã bị bỏ quên nhiều năm. Qua chất gỗ của nó, có thể đoán nó rất đắt tiền. Nhưng bây giờ, nó bám đầy bụi, trông giống một nghệ sĩ sa sút tinh thần. Liễu Địch lấy một tấm giẻ lau, cẩn thận lau sạch bụi trên cây đàn. Nhìn cây đàn từ từ bóng loáng, Liễu Địch rơi vào trầm tư. Hôm nay là một buổi chiều kỳ lạ, Liễu Địch từng chút từng chút tìm thấy dấu vết cuộc sống trong quá khứ của thầy Chương qua đồ đạc trong nhà và lời kể của thầy. Quá khứ của thầy dần hiện ra trước mắt cô. Đọc sách, viết văn, ngắm biển, vẽ tranh, chơi guitar... Cuộc sống của thầy vô cùng phong phú và mãn nguyện. Còn bây giờ, để bảo vệ nhân cách và sự tôn nghiêm của bản thân, thầy cam tâm tình nguyện sống cô độc hết ngày này sang ngày khác, hết năm này sang năm khác. Liễu Địch bất giác đọc khẽ hai câu thơ: "Tiêu thủ triều triều hoàn mộ mộ, Tiên tâm nhật nhật phục niên niên.[5]"
[5] Hai câu thơ trong truyện Hồng Lâu Mộng, chỉ người con gái thời phong kiến phải sống tẻ nhạt trong khuê phòng hết ngày này đến ngày khác.
Thầy Chương đang ngồi trên ghế mây đứng bật dậy, hỏi bằng giọng gấp gáp: "Liễu Địch, em vừa đọc gì thế?"
Liễu Địch chưa kịp trả lời, cây guitar trong tay cô đột nhiên phát ra tiếng kêu đau đớn. Hai thầy trò giật mình, Liễu Địch cúi đầu nhìn, hóa ra dây đàn bị gỉ đã đứt phựt trong lúc cô lau chùi.
Hai thầy trò đều trầm mặc trong giây lát. Dư âm run rẩy của cây đàn ngân vang trong căn phòng một lúc lâu. Thanh âm khàn đục đó khiến trái tim của hai thầy trò rung lên.
Khi dư âm của tiếng đàn biến mất, thầy Chương cảm khái: "Vào thời khắc mọi dây đàn bị đứt, chúng phát ra tiếng kêu xé lòng bởi chúng không cam tâm lặng lẽ chết đi."
Liễu Địch ngẩn người lắng nghe, cô vẫn chưa hoàn hoàn toàn lĩnh hội hàm ý trong câu nói của thầy Chương. Đúng lúc này, Liễu Địch nghe thấy tiếng nói chuyện từ bên ngoài vọng vào. Cô nhìn ra ngoài cửa, phát hiện mấy người phụ nữ trung niên và trẻ tuổi ở ngoài sân đang chỉ chỉ chỏ chỏ, bàn tán điều gì đó. Thầy Chương cũng nghe thấy tiếng nói chuyện. Đáy mắt thầy vụt qua một tia cảnh giác, gương mặt thầy trở nên nghiêm nghị. Thầy cất giọng vô cảm với Liễu Địch: "Liễu Địch, không còn sớm nữa, em mau về nhà đi!"
Đúng vậy, không còn sớm nữa. Liễu Địch đưa mắt ra ngoài cửa sổ, ông mặt trời đỏ rực đang ngự ở phía Tây, ánh hoàng hôn dần buông xuống.
"Nhưng..." Liễu Địch liếc hai thùng mì ăn liền, cô còn muốn nấu bữa tối cho thầy.
"Được rồi, Liễu Địch, em hãy về đi!" Thầy Chương lại một lần nữa "nhìn" thấu tâm tư của cô: "Xin thứ lỗi tôi đón tiếp em không chu đáo. Tôi không định giữ em ở lại cùng ăn bữa tối."
Liễu Địch ngước nhìn thầy Chương. Sắc mặt thầy âm trầm, lạnh lẽo. Thầy lại đóng chặt cánh cửa trái tim mà khó khăn lắm mới mở ra một chút. Liễu Địch thở dài, hiện thực là một cây roi da tàn nhẫn, nó có thể đuổi hết mọi thứ đẹp đẽ và ấm áp. Cô tức giận trừng mắt với mấy người phụ nữ ở ngoài sân rồi lưu luyến đảo mắt một lượt quanh ngôi nhà và thầy Chương đang đứng yên lặng ở giữa nhà. Sau đó, Liễu Địch mím môi, quay người đi ra ngoài.
Mặt trời sắp khuất bóng, ánh sáng vàng dịu dàng cuối cùng của một ngày chiếu lên bức tường bao xung quanh sân nhỏ. Liễu Địch nhìn ông mặt trời đỏ rực, đột nhiên nhớ tới mặt trời trên biển trong bức tranh của thầy Chương. Liễu Địch bất giác quay đầu về phía sân nhỏ đang được tắm mình trong ánh hoàng hôn. Thầy Chương không biết đứng bên cửa ra vào từ lúc nào. Hình bóng cao lớn, cô độc của thầy nổi bật trong ánh chiều tà.
"Ý em là những cuốn sách đó phải không?" Thầy Chương tựa hồ bừng tỉnh khỏi nỗi trầm tư. "Đây đúng là một kho báu. Thời đi học, có bao nhiêu tiền tôi dốc ra mua sách hết. Để kiếm tiền mua sách, tôi từng đi làm thuê, làm gia sư, thậm chí có lúc bán cả quần áo của mình...Việc làm sáng suốt nhất của tôi là không để sách ở nhà bố mẹ, mà để ở đây nên chúng mới thoát khỏi trận hỏa hoạn đó. Tuy bây giờ không thể đọc chúng nhưng tôi vẫn cảm thấy rất may mắn. Sau khi tôi bị mù, nhiều người khuyên tôi bán chỗ sách này đi. Người của thư viện còn đến tận đây thuyết phục tôi nhưng tôi không đồng ý. Sao tôi có thể bán chúng được cơ chứ?"
Liễu Địch trầm mặc. Cô hiểu một cách sâu sắc tình cảm của thầy Chương. Đúng vậy, sao có thể đem bán sách chứ? Những cuốn sách này đánh dấu khoảng thời gian đẹp đẽ nhất trong cuộc đời thầy Chương, thấm biết bao giọt mồ hôi và tâm huyết của thầy, lưu giữ tuổi thanh xuân và ước mơ của thầy, thể hiện tư tưởng và niềm tin của thầy... Chúng không chỉ đơn thuần là những cuốn sách vô tri vô giác mà đã trở thành một phần sinh mệnh của thầy. Thầy làm sao nỡ cắt bỏ sinh mệnh của mình?
Thầy Chương lại chìm trong hồi ức. Tâm tình nằm sâu trong ký ức của thầy bây giờ đang từ từ tuôn chảy như dòng suối nhỏ:
"Lúc đó, tôi yêu sách như sinh mạng. Kiếm được một cuốn sách hay, tôi sẽ đọc nó quên ăn quên ngủ. Ở Bắc Đại có một giáo sư đặc biệt tin tưởng vào việc học thuộc lòng. Ông cho rằng, những trường tư thục ở thời phong kiến đã đào tạo ra nhiều nhân tài qua việc bắt học trò đọc thuộc lòng, tự nhiên sẽ nghiệm ra được nhiều đạo lý. Tôi cũng bị ảnh hưởng bởi vị giáo sư đó. Phàm là sách hay, những bài văn hay, tôi đều đọc thuộc. Tất nhiên tôi không học thuộc một cách cứng nhắc, mà vừa đọc vừa cảm nhận. Bây giờ tôi thực sự cảm kích vị giáo sư ấy. Sau khi tôi bị mù, chính những cuốn sách in sâu trong đầu đã giúp tâm hồn và tư tưởng của tôi không bị khô cạn. Tôi "đọc" chúng mỗi ngày, đọc đi đọc lại nhiều lần... Nếu không đọc, làm sao tôi có thể tiếp tục sống đây?"
Liễu Địch bị lây nhiễm bởi tình yêu xuất phát tự đáy lòng đối với sách và tri thức của thầy Chương. Cô chợt nhớ tới buổi lên lớp đầu tiên của thầy. Thảo nào các bạn không thể làm khó thầy. Ở trước mặt thầy Chương, chúng quả thực quá nông cạn.
Sau khi dọn dẹp giá sách, Liễu Địch lại lau chùi bàn làm việc. Cô phát hiện một máy nghe băng cát xét và mười mấy cuộn băng ở trong ngăn kéo. Nghe thấy tiếng mở ngăn kéo, thầy Chương vội ngăn lại: "Liễu Địch, em đừng động vào những cuộn băng đó. Đây là băng ghi âm giáo trình đại cương, tài liệu tham khảo và phương pháp dạy học của môn Ngữ văn cấp ba. Mỗi tối, tôi đều nghe những cuộn băng này. Nếu em làm lộn xộn, tôi sẽ không tìm thấy cuộn băng tôi cần."
Liễu Địch thè lưỡi, lập tức đóng ngăn kéo lại. Cô thầm nghĩ thầy Chương nhờ người ghi âm những tài liệu này không biết tốn bao công sức. Thầy quả thực là một thầy giáo tốt.
Sau đó, ánh mắt cô dừng lại ở những bức tranh treo trên bức tường phía bắc. Những bức tranh đó rõ ràng không được thầy Chương trân trọng như đống sách bởi chúng phủ đầy bụi. Liễu Địch tìm một miếng vải khô mềm, nhẹ nhàng lau hết bụi trên những bức tranh, trả lại diện mạo thực sự cho chúng.
Mỗi khi lau sạch một bức tranh, Liễu Địch không khỏi cảm thán trong lòng. Cô không hiểu về hội họa, không thể đánh giá những bức tranh này, nhưng cô có thể cảm nhận rõ ràng, trong mỗi bức tranh ẩn chứa một sức mạnh, một sức mạnh không thuộc về kỹ thuật hội họa mà thuộc về sinh mệnh, tình cảm và tâm hồn.
Sức mạnh này khiến Liễu Địch cảm động. Nó rốt cuộc là gì? Cô trầm tư suy ngẫm, ánh mắt vô tình dừng lại ở hai bức tranh sơn dầu lớn chạm cả xuống mặt đất. Liễu Địch bị chấn động trong giây lát.
Đây là hai bức tranh khác nhau. Một bức vẽ đại dương mênh mông. Người vẽ sử dụng gam màu lam thẫm. Sóng biển cuộn trào thành từng bông hoa sóng. Bên trên là bầu trời xám mờ và tầng mây nhàn nhạt. Bức tranh không có mặt trời, cũng không có cánh chim bay. Bên bờ biển là một bãi cát nhỏ. Trên bãi cát có một cành cây khô cằn cỗi và thô ráp nằm cô độc. Sóng biển lấp chìm một nửa cành cây. Nhưng ở giữa chạc cây lại nhú lên một chồi non nho nhỏ màu xanh lục khiến cả bức tranh ảm đạm như có sinh khí, tỏa ra một sức mạnh thuộc về sinh mệnh khó diễn tả thành lời.
Bức tranh sơn dầu còn lại vẽ mặt trời sắp lặn trên biển. Mặt biển hiền hòa, ánh hoàng hôn màu vàng rực rỡ. Nơi tiếp giáp giữa trời và biển có chùm mây rực rỡ và ông mặt trời đỏ rực, trông huy hoàng nhưng cũng rất u sầu. Ông mặt trời như quả tim tích tụ mọi huyết quản, sau đó giải phóng hết năng lượng, đốt cháy sự tôn nghiêm, niềm hy vọng, tình yêu của nhân loại, cho đến khi trái tim đó cháy hết.
Liễu Địch ngẩn ngơ ngắm hai tác phẩm làm rung động lòng người đó. Cô đứng bất động, cũng không nói chuyện, thất thần ngắm tranh. Cô như chìm trong những cảm xúc kỳ lạ và chấn động. Trong lòng cô vụt qua tia mờ mịt, chua xót, bi tráng... Cô không thể nói rõ tâm trạng của mình lúc này.
Nhưng Liễu Địch đột nhiên hiểu ra, sức mạnh ẩn chứa trong tranh của thầy Chương chính là "sinh mệnh", chính là tình yêu mãnh liệt đối với sinh mệnh. Sinh mệnh dẻo dai, sinh mệnh tươi mới, sinh mệnh đầy tôn nghiêm, sinh mệnh cao quý, sinh mệnh không khuất phục, sinh mệnh không thể bị hủy diệt và sỉ nhục... đều được thể hiện trong tác phẩm của thầy. Thầy không vẽ bằng cọ vẽ mà dùng tư tưởng, tình cảm và tâm hồn để vẽ tranh.
"Liễu Địch, em đang làm gì vậy?" Thầy Chương đột nhiên lên tiếng, phá vỡ bầu không khí tĩnh lặng.
"Em đang xem tranh ạ!" Liễu Địch vẫn chìm đắm trong cảm xúc của mình.
"Bức nào?"
"Mặt trời lặn trên biển."
"Em có cảm giác gì không?"
"Bi tráng như sự cảm thán của người anh hùng ạ!"
Gương mặt thầy Chương hơi rung động.
"Thầy Chương, thầy rất thích biển đúng không ạ?" Liễu Địch hỏi nhỏ.
"Đúng vậy, tôi rất thích." Thầy Chương lại chìm trong hồi ức. "Tôi còn nhớ lần đầu tiên tôi nhìn thấy biển. Đó là kỳ nghỉ hè năm lớp 11, một mình tôi đi đến làng chài nhỏ ở Yên Đài, sống nhờ nhà một bà lão ở đó. Lúc bấy giờ, khi nhìn thấy mặt biển mênh mông, vô cùng vô tận, tôi mới nhận thức được thế nào là bao la, bát ngát. Đứng trước biển, tôi cảm thấy mình nhỏ bé vô cùng. Thế là cả kỳ nghỉ hè năm đó, tôi đeo ống vẽ tranh, đi lang thang dọc bờ biển dài không biết bao nhiêu cây số. Có lúc tôi chẳng làm gì cả, chỉ ngồi trên mỏm đá mấy tiếng đồng hồ, nhìn ra biển. Những lúc như vậy, đầu óc tôi trống rỗng, tâm hồn tĩnh lặng, lý trí chìm trong hư vô, quên cả bản thân." Thầy Chương thở khẽ, sau đó lại cất giọng thâm trầm mà xúc động: "Em có biết không, biển là kiên cường nhất. Nó có thể bao dung mọi nỗi đau khổ và bất hạnh của con người."
Liễu Địch đã hoàn toàn hóa đá. Từ trước đến nay thầy Chương hết sức kiệm lời, vậy mà bây giờ thầy lại tâm sự nhiều như vậy. Có thể thấy đã từ rất lâu, thầy không nhắc đến ký ức đã phủ bụi mờ với người khác.
"Đến bây giờ tôi vẫn nhớ rõ mọi thứ ở biển." Thầy Chương nói tiếp: "Tôi vẫn nhớ những mỏm đá lởm chởm, đủ hình thù sinh động, đâu đâu cũng có dấu vết của ngọn sóng xô vào... Còn bãi cát bên bờ biển, vừa mịn vừa trắng, lấp lánh dưới ánh mặt trời, giống như vô số vì sao vỡ vụn. Trên bãi cát còn có nhiều vỏ sò, tuy không hoàn chỉnh nhưng được sóng biển gột rửa sạch sẽ. Vỏ sò thiên hình vạn trạng, đủ loại màu sắc, trắng như tuyết, đỏ như máu, tím như vầng mây cuối cùng ở trên không trung trước khi trời tối..."
Liễu Địch reo lên: "Đẹp quá, em cũng muốn đi xem!"
"Biển có rất nhiều thứ đáng chiêm ngưỡng và khám phá." Thầy Chương có vẻ thất thần. "Mặt trời mọc trên biển là thời khắc đẹp nhất. Vô số tia sáng vàng tỏa ra từ chân trời tối đen. Tiếp theo là mặt trời đỏ rực như quả cầu lửa nhô ra khỏi vầng mây rực rỡ, từ từ bay lên cao, lên cao mãi... cho đến khi em không thể nhìn thẳng vào nó. Còn mặt biển từ mờ mờ chuyển thành màu đỏ, rồi từ màu đỏ chuyển thành những con sóng trắng xóa. Quá trình thay đổi này rất kỳ diệu, đến mức em như cảm thấy ngừng thở. Ngoài ra, đến khi trời tối, mặt biển mang một màu đen, những vì tinh tú lấp lánh trên bầu trời dệt thành bức tranh mộng ảo."
Liễu Địch nín thở lắng nghe, sau đó cô không thể kìm nén tâm trạng xúc động: "Em muốn ngắm biển, muốn ngắm biển ngay lập tức!"
"Tôi cũng vậy... tôi rất muốn... muốn ngắm biển một lần." Ngữ điệu của thầy Chương đột nhiên trở nên lạ thường, lông mày của thầy nhíu chặt, giọng run run. "Tôi muốn nhìn thấy biển. Thật đấy, tôi muốn lại được nhìn thấy sóng biển cuộn trào, gió biển rì rào, chim hải âu vỗ cánh. Tôi muốn nhìn thấy những ngọn sóng nhấp nhô, bầu trời trong xanh và làn mây trắng. Thật đấy, có lúc mặt biển như tấm thảm nhung màu xanh khiến tôi chỉ muốn nằm ngủ trên đó, lăn lộn trên đó. Còn cả ánh hoàng hôn khi mặt trời lặn, ngọn hải đăng và những cánh buồm về bến. Tôi muốn nhìn thấy con dã tràng trên bờ cát... Nếu tôi có thể được nhìn một lần, cho dù một lần, tôi cũng..." Thầy Chương đột ngột dừng lại, gương mặt co rúm, tái mét.
Nhưng chỉ vài giây sau, thầy lại lấy lại vẻ bình tĩnh như chưa từng có chuyện gì xảy ra. "Tôi xin lỗi, Liễu Địch, tôi nói hơi nhiều." Thầy nói: "Em có biết không? Những lúc cô độc, tôi thường hồi tưởng lại cảnh tượng này. Nhưng mỗi năm trôi qua, tôi chợt phát hiện những hình ảnh đó ngày càng trở nên mơ hồ trong trí óc. Tôi sống trong thế giới không ánh sáng, không màu sắc. Trong thế giới này, tôi không thể đi ra, người khác cũng không thể bước vào. Trong bóng tối vô tận, ký ức của tôi về ánh sáng và màu sắc từ từ biến mất. Tôi nghĩ vài năm sau, có lẽ những hình ảnh sống động đó sẽ chỉ còn là một mớ hỗn độn trong trí não tôi mà thôi."
Sống lưng Liễu Địch lạnh buốt, cô cảm thấy từng tế bào của tâm hồn đều run rẩy. Thế giới không màu sắc là thế giới như thế nào? Thế giới không ánh sáng là thế giới ra sao? Một người từ nhỏ đã vô cùng nhạy cảm với ánh sáng và màu sắc như thầy Chương làm thế nào để chịu đựng cuộc sống không màu sắc và ánh sáng? Liễu Địch hối hận vì đã gợi mở ký ức của thầy. Điều này nhất định sẽ đụng chạm đến nỗi đau từ đáy sâu tâm hồn thầy. Cô nhanh chóng rời mắt khỏi những bức họa, đi dọn dẹp đồ dưới gầm giường của thầy Chương.
Dưới gầm giường chất đầy giá vẽ, bút lông, hộp màu và cả những tờ giấy trắng chưa sử dụng. Đối với thầy Chương, những thứ này không còn tác dụng nữa. Liễu Địch cố gắng dồn hết chúng về một bên, để có chỗ chứa những những đồ khác.
Liễu Địch đột nhiên phát hiện một cây guitar dưới đống giấy vẽ. Cây guitar bám đầy bụi, dây đàn đã bị gỉ, chứng tỏ một thời gian dài không ai đụng đến nó. Liễu Địch lôi cây đàn ra khỏi gầm giường, hồ hởi reo lên như phát hiện ra lục địa mới: "Thầy Chương, thầy biết chơi guitar ạ?"
"Tôi có học một thời gian." Thầy Chương gật đầu. "Thời gian học ở Bắc Đại, trong phòng ký túc của tôi có một cậu chơi guitar rất giỏi. Tôi học từ cậu ấy. Tôi từng bỏ nhiều công sức và nhiệt huyết vào cây guitar. Nhưng sau khi bị mù, tôi không động đến nó, tính ra cũng năm năm rồi. À..." Thầy Chương đột nhiên hiểu ra vấn đề. "Em tìm thấy cây đàn của tôi, đúng không?"
Liễu Địch không trả lời. Cô ngắm nhìn cây đàn đã bị bỏ quên nhiều năm. Qua chất gỗ của nó, có thể đoán nó rất đắt tiền. Nhưng bây giờ, nó bám đầy bụi, trông giống một nghệ sĩ sa sút tinh thần. Liễu Địch lấy một tấm giẻ lau, cẩn thận lau sạch bụi trên cây đàn. Nhìn cây đàn từ từ bóng loáng, Liễu Địch rơi vào trầm tư. Hôm nay là một buổi chiều kỳ lạ, Liễu Địch từng chút từng chút tìm thấy dấu vết cuộc sống trong quá khứ của thầy Chương qua đồ đạc trong nhà và lời kể của thầy. Quá khứ của thầy dần hiện ra trước mắt cô. Đọc sách, viết văn, ngắm biển, vẽ tranh, chơi guitar... Cuộc sống của thầy vô cùng phong phú và mãn nguyện. Còn bây giờ, để bảo vệ nhân cách và sự tôn nghiêm của bản thân, thầy cam tâm tình nguyện sống cô độc hết ngày này sang ngày khác, hết năm này sang năm khác. Liễu Địch bất giác đọc khẽ hai câu thơ: "Tiêu thủ triều triều hoàn mộ mộ, Tiên tâm nhật nhật phục niên niên.[5]"
[5] Hai câu thơ trong truyện Hồng Lâu Mộng, chỉ người con gái thời phong kiến phải sống tẻ nhạt trong khuê phòng hết ngày này đến ngày khác.
Thầy Chương đang ngồi trên ghế mây đứng bật dậy, hỏi bằng giọng gấp gáp: "Liễu Địch, em vừa đọc gì thế?"
Liễu Địch chưa kịp trả lời, cây guitar trong tay cô đột nhiên phát ra tiếng kêu đau đớn. Hai thầy trò giật mình, Liễu Địch cúi đầu nhìn, hóa ra dây đàn bị gỉ đã đứt phựt trong lúc cô lau chùi.
Hai thầy trò đều trầm mặc trong giây lát. Dư âm run rẩy của cây đàn ngân vang trong căn phòng một lúc lâu. Thanh âm khàn đục đó khiến trái tim của hai thầy trò rung lên.
Khi dư âm của tiếng đàn biến mất, thầy Chương cảm khái: "Vào thời khắc mọi dây đàn bị đứt, chúng phát ra tiếng kêu xé lòng bởi chúng không cam tâm lặng lẽ chết đi."
Liễu Địch ngẩn người lắng nghe, cô vẫn chưa hoàn hoàn toàn lĩnh hội hàm ý trong câu nói của thầy Chương. Đúng lúc này, Liễu Địch nghe thấy tiếng nói chuyện từ bên ngoài vọng vào. Cô nhìn ra ngoài cửa, phát hiện mấy người phụ nữ trung niên và trẻ tuổi ở ngoài sân đang chỉ chỉ chỏ chỏ, bàn tán điều gì đó. Thầy Chương cũng nghe thấy tiếng nói chuyện. Đáy mắt thầy vụt qua một tia cảnh giác, gương mặt thầy trở nên nghiêm nghị. Thầy cất giọng vô cảm với Liễu Địch: "Liễu Địch, không còn sớm nữa, em mau về nhà đi!"
Đúng vậy, không còn sớm nữa. Liễu Địch đưa mắt ra ngoài cửa sổ, ông mặt trời đỏ rực đang ngự ở phía Tây, ánh hoàng hôn dần buông xuống.
"Nhưng..." Liễu Địch liếc hai thùng mì ăn liền, cô còn muốn nấu bữa tối cho thầy.
"Được rồi, Liễu Địch, em hãy về đi!" Thầy Chương lại một lần nữa "nhìn" thấu tâm tư của cô: "Xin thứ lỗi tôi đón tiếp em không chu đáo. Tôi không định giữ em ở lại cùng ăn bữa tối."
Liễu Địch ngước nhìn thầy Chương. Sắc mặt thầy âm trầm, lạnh lẽo. Thầy lại đóng chặt cánh cửa trái tim mà khó khăn lắm mới mở ra một chút. Liễu Địch thở dài, hiện thực là một cây roi da tàn nhẫn, nó có thể đuổi hết mọi thứ đẹp đẽ và ấm áp. Cô tức giận trừng mắt với mấy người phụ nữ ở ngoài sân rồi lưu luyến đảo mắt một lượt quanh ngôi nhà và thầy Chương đang đứng yên lặng ở giữa nhà. Sau đó, Liễu Địch mím môi, quay người đi ra ngoài.
Mặt trời sắp khuất bóng, ánh sáng vàng dịu dàng cuối cùng của một ngày chiếu lên bức tường bao xung quanh sân nhỏ. Liễu Địch nhìn ông mặt trời đỏ rực, đột nhiên nhớ tới mặt trời trên biển trong bức tranh của thầy Chương. Liễu Địch bất giác quay đầu về phía sân nhỏ đang được tắm mình trong ánh hoàng hôn. Thầy Chương không biết đứng bên cửa ra vào từ lúc nào. Hình bóng cao lớn, cô độc của thầy nổi bật trong ánh chiều tà.
Chương 11
Cuối tháng Bảy, điểm thi đại học cuối cùng cũng được công bố. Lớp 1 do thầy Chương dạy đạt thành tích tương đối cao, đặc biệt là môn Ngữ văn, điểm số bình quân đứng đầu toàn tỉnh. Liễu Địch đạt 718 điểm, xếp thứ nhất khối Văn toàn tỉnh. Trong đó, thành tích môn Ngữ văn của cô cao ngất ngưởng. Điểm tối đa là 150 điểm, cô đạt 147 điểm, điểm số này có thể là cao nhất trong cả nước.
Tin tức vừa lan ra, cả thành phố xôn xao. Thị trưởng thành phố đích thân tới gặp "trạng nguyên khối Văn", khen ngợi Liễu Địch "tuổi trẻ tài cao". Phóng viên báo chí cũng lần lượt đến phỏng vấn Liễu Địch, đề nghị cô phát biểu cảm tưởng, chia sẻ kinh nghiệm học tập, rồi cả một loạt vấn đề không quan trọng. Nhà trường đặc biệt dán tờ giấy đỏ cỡ lớn báo tin vui, đồng thời mời Liễu Địch tham gia buổi báo cáo trước toàn trường.
Cô chủ nhiệm Trần Chi tươi cười hớn hở, khen Liễu Địch là "thiên tài". Cô Trần cho biết, cô đã sớm dự đoán Liễu Địch có thể thi đỗ vào Bắc Đại. Bố mẹ Liễu Địch càng vui mừng, cười từ sáng đến tối. Liễu Địch như trút được tảng đá nặng trong lòng, cũng cảm thấy phấn khởi.
Nhưng sau đó, đối diện với những lời ca tụng không ngớt, các loại hoạt động và phỏng vấn liên tiếp, tâm trạng phấn khởi nhanh chóng biến mất, thay vào đó là nỗi bực dọc. Liễu Địch từ chối tham dự buổi báo cáo của nhà trường và các cuộc phỏng vấn không cần thiết. Cuối cùng, để né tránh đám phóng viên dai như đỉa đói, Liễu Địch trốn ở văn phòng của thầy Chương cả ngày, không ra ngoài. Dù sao từ trước đến nay, văn phòng của thầy Chương cũng là "cấm địa". Không được sự cho phép của thầy, ngay cả thị trưởng thành phố cũng không thể vào trong. Thầy Chương vẫn giữ dáng vẻ bình thản như mọi khi, nghe tin thành tích môn Ngữ văn của lớp do thầy dạy đứng đầu toàn tỉnh, thầy không ngẩng đầu, chỉ khi nghe tin Liễu Địch đạt thành tích tốt, trên gương mặt thầy mới để hiện vẻ vui mừng.
Tiếp theo là đợi giấy báo trúng tuyển.
Những trường đại học trọng điểm gửi giấy báo trúng tuyển, không có tên Liễu Địch.
Các trường đại học hạng hai gửi giấy báo trúng tuyển, vẫn không có tên Liễu Địch.
Bố mẹ Liễu Địch hoảng hốt. Họ nhờ người hỏi thăm tình hình khắp nơi nhưng không có kết quả. Bố Liễu Địch thậm chí gọi điện tới tận đại học Bắc Kinh, câu trả lời của họ vừa khách sáo vừa mơ hồ, khiến ông chẳng biết đường nào mà lần.
Liễu Địch cũng sốt ruột, lo lắng. Thành tích của cô vượt xa điểm chuẩn, tại sao không được tuyển? Là bị bỏ sót hay nhầm lẫn ở đâu? Hay là giấy báo trúng tuyển gửi chậm? Các suy đoán và nghi hoặc khiến Liễu Địch rối bời, nhưng cô vẫn không tìm ra đầu mối.
Một trường đại học lớn như Bắc Đại, điểm số không phải là điều kiện tuyển chọn duy nhất. Có mấy chục lý do bị loại, ai mà biết cô rơi vào trường hợp nào?
Sau khi biết tin, đám phóng viên lập tức thay đổi thái độ. Một số hoạt động Liễu Địch nhận lời trước đó bỗng dưng bị hủy bỏ bởi các lý do "hợp tình hợp lý". Liễu Địch từ đứa con cưng của Thượng đế trở thành con chim sẻ bị quên lãng trong mùa đông. Việc từ thiên đường rơi xuống địa ngục trong giây lát khiến cô không chịu đựng nổi.
Đúng lúc này, tin đồn không biết bắt nguồn từ đâu, âm thầm lan truyền với tốc độ chóng mặt, nào là "điểm số công bố sai", "lúc khớp điểm xảy ra vấn đề"... Có người nói Liễu Địch gian lận trong thi cử, bị người khác tố cáo nên bị hủy kết quả. Các loại tin đồn tồi tệ khiến một cô gái chững chạc như Liễu Địch cũng không thể kiềm chế, cô cảm thấy mình như sắp phát điên.
Ở trường, Liễu Địch phải đối diện với vô số ánh mắt nghi ngờ, dò hỏi. Ở nhà, cô phải đối diện với gương mặt u ám của bố mẹ. Mặc dù thế giới rộng lớn nhưng cô không có chốn dung thân. Chỉ trong văn phòng nhỏ của thầy Chương, Liễu Địch mới được yên tĩnh.
Đúng vậy, kể từ lúc công bố điểm thi, chiều nào Liễu Địch cũng đến văn phòng của thầy Chương chờ giấy gọi nhập học. Thầy Chương ngày ngày đến trường, cùng cô chờ đợi. Hai thầy trò thường lặng lẽ ngồi trong văn phòng cả buổi chiều. Đến giờ tan tầm, Liễu Địch lại tiễn thầy Chương ra trạm xe buýt.
Liễu Địch từng khuyên thầy Chương đừng đội nắng nóng đến trường, nhưng thầy chỉ lắc đầu. Thực tế, Liễu Địch rất mong thầy Chương ở bên cạnh cô. Không hiểu tại sao gương mặt điềm tĩnh và lạnh nhạt của thầy Chương mang đến cho cô một sức mạnh và niềm an ủi khó diễn tả thành lời, nó có tác dụng hơn bất cứ lời nói nào. Ngắm nhìn bộ dạng thản nhiên và trầm tĩnh của thầy, tâm trạng lo lắng, bất an của Liễu Địch lắng xuống như có phép lạ.
Cô lại nhớ đến câu nói của thầy: "Tôi dám dùng sinh mạng để bảo đảm em nhất định sẽ thi đỗ vào Bắc Đại." Câu nói kiên định đó đã trở thành trụ cột tinh thần duy nhất của Liễu Địch trong những ngày tháng hỗn loạn này. Tuy nhiên, trụ cột tinh thần cũng có lúc dao động. Mấy lần, Liễu Địch không thể kìm nén tâm trạng sốt ruột. Cô đứng dậy, đi đi lại lại trong phòng. Những lúc như vậy, thầy Chương sẽ pha cho cô một cốc trà, sau đó thầy dò dẫm ngắt một bông hoa nhài nhỏ trên cửa sổ, lặng lẽ bỏ vào cốc trà. Thầy Chương ăn mặc tiết kiệm nhưng việc thưởng thức trà tương đối cầu kỳ. Nhìn cánh hoa nhỏ màu trắng dập dềnh trong cốc nước, ngửi mùi hương hoa dìu dịu khắp căn phòng, Liễu Địch liền cảm thấy một sự yên bình khó tả. Tâm trạng sốt ruột, thấp thỏm cũng lặng lẽ biến mất.
Nếu không có thầy Chương, Liễu Địch thật sự không biết làm thế nào để vượt qua giai đoạn khó khăn này. Nhưng đã đến tuần cuối cùng của tháng Tám, đến bạn có điểm thi thấp nhất của lớp cũng nhận được giấy gọi nhập học của một trường hạng hai, vậy mà giấy báo trúng tuyển của Liễu Địch vẫn bặt vô âm tín.
Trong một buổi chiều mòn mỏi chờ đợi, lúc Liễu Địch chán nản đến mức gần tuyệt vọng, từ bên ngoài văn phòng của thầy Chương vang lên tiếng gõ cửa "cộc cộc".
Nghe thấy tiếng gõ cửa, thầy Chương và Liễu Địch đều giật mình. Cả hai thầy trò đều ý thức được điều gì đó. Nhất định là ông Lý. Thầy Chương từng dặn dò, một khi nhận được giấy báo trúng tuyển từ Bắc Đại, ông Lý sẽ mang ngay đến văn phòng của thầy Chương để đưa cho Liễu Địch.
Liễu Địch cảm thấy tim cô như sắp nhảy ra khỏi lồng ngực, máu trong người dồn hết lên đại não. Cô vội vàng đứng dậy, quay người đi ra mở cửa.
Cánh cửa mở, Liễu Địch ngẩn người. Bên ngoài là một ông lão tóc bạc mà cô không quen biết.
"Em là Liễu Địch phải không?" Ông lão mỉm cười, đi vào trong phòng. Liễu Địch mở to mắt quan sát, ông có mái tóc bạc trắng, đeo kính trắng gọng vàng, dáng vẻ thân thiện, nhân từ và phong độ. Từ người ông toát ra vẻ cao quý, nho nhã, tựa hồ một học giả bước ra từ phòng đọc sách.
Phát hiện Liễu Địch đang nhìn mình bằng ánh mắt dò xét, ông cất giọng ôn hòa, tự giới thiệu: "Tôi họ Tô, là giảng viên khoa Trung văn, Đại học Bắc Kinh."
Đến từ Bắc Đại? Liễu Địch thấy vô cùng hồi hộp. Thầy Chương dường như cũng kinh ngạc, thầy ngồi thẳng người, chiếc ghế thầy đang ngồi phát ra tiếng cót két khe khẽ.
"Tôi vì việc trúng tuyển của em nên mới đến đây." Thầy Tô đi thẳng vào vấn đề. "Chuyện là thế này. Sau khi công bố điểm thi, chúng tôi có xem lại bài thi môn Ngữ văn của em. Bởi trong mấy năm gần đây, chúng tôi chưa từng gặp điểm số cao như vậy. Có thể nói, bài thi của em tương đối hoàn hảo, đặc biệt là bài làm văn. Ba thầy chấm thi đều cho em điểm tối đa. Tuy nhiên, trong lúc cho điểm, họ đồng thời viết thêm nhận xét của mình..." Thầy Tô rút trong túi ra một bài thi: "Em có thể đọc những lời nhận xét này."
Liễu Địch vội vàng nhận bài thi. Ba thầy chấm thi đúng là đều ghi lời nhận xét. Một thầy viết: "Bài văn hay đến mức khiến tôi không thể không cho điểm cao." Một thầy viết: "Tôi chưa bao giờ gặp một câu chuyện xa rời thực tế nhưng lại chân thực như vậy." Người thứ ba thẳng thắn nhận xét: "Tôi không tin câu chuyện này có thực ngoài đời."
"Ba lời nhận xét rất rõ ràng." Thầy Tô nhận lại bài thi, bỏ vào túi. "Cả ba thầy chấm thi đều nghi ngờ tính chân thực trong bài văn của em, nhưng họ đều cảm động. Nói cách khác, họ bị thuyết phục bởi tình cảm của người viết, vì vậy họ không hẹn mà cùng cho điểm số tuyệt đối. Khi chúng tôi đọc bài văn của em, nói thật, chúng tôi cũng không tin câu chuyện em viết. Đặc biệt, thầy dạy ngữ văn của các em lại là người khiếm thị."
Ngừng một, hai giây, thầy Tô nói tiếp: "Nhưng chúng tôi cũng như ba thầy chấm điểm thi bị chinh phục bởi tình cảm đẹp đẽ, chân thành, sâu sắc và thuần khiết trong bài văn. Tiếp theo là vấn đề tuyển chọn em, trong khoa xuất hiện hai luồng ý kiến trái ngược. Có ý kiến cho rằng, nếu bài văn này là hư cấu thì không phù hợp với yêu cầu của đề thi, bài văn không thể giành điểm số cao như vậy, thí sinh này không có tư cách vào Bắc Đại. Ý kiến khác cho rằng, tình cảm thể hiện trong bài văn rất chân thực và cảm động, tác giả của bài văn là một tài năng, bỏ qua một nhân tài là điều đáng tiếc của Bắc Đại. Hai luồng ý kiến tranh luận gay gắt. Cuối cùng, nhà trường quyết định cử tôi đến tận trường của cháu để điều tra, xem câu chuyện trong bài văn có chân thực hay không. Nếu là sự thật, tôi sẽ trao giấy báo trúng tuyển cho em ngay tại đây."
Liễu Địch hoàn toàn sửng sốt. Cô nằm mơ cũng không ngờ bài văn của mình lại gây ra sự ngờ vực và tranh luận ở Bắc Đại, hơn nữa còn làm cô suýt nữa bị đánh trượt.
Liễu Địch đưa mắt về phía thầy Chương vẫn im lặng từ đầu đến giờ. Vẻ mặt thầy rất kỳ lạ, tựa hồ đang suy ngẫm điều gì đó, lại như chìm trong hồi ức, vừa tập trung vừa xúc động. Nghe những lời nói gây chấn động của thầy Tô, thầy Chương vẫn không lên tiếng nói hộ Liễu Địch. Liễu Địch hơi thất vọng, cô đành tự mình giải thích: "Thầy Tô, bài văn của em..."
"Em không cần giải thích." Thầy Tô mỉm cười, ngắt lời Liễu Địch, nụ cười của ông ôn hòa, thân thiện, như ngọn gió xuân tháng Ba: "Vừa rồi tôi đã đến phòng hiệu trưởng và nắm được tình hình. Câu chuyện kể trong bài văn không ngờ lại là sự thật. Xin thứ lỗi khi tôi dùng từ "không ngờ", bởi tôi thật sự không nghĩ ra từ khác để thể hiện sự kinh ngạc của mình. Cho đến bây giờ tôi mới hiểu, trong cuộc sống đúng là có thể xảy ra những chuyện khiến chúng ta không thể tin nổi. Những câu chuyện khó tin đó, ở một thời điểm đặc biệt, hoàn cảnh đặc biệt, xảy ra với những con người đặc biệt thì sẽ rất hợp tình hợp lý. Ví dụ như thầy giáo khiếm thị mà bài văn của em đề cập." Ánh mắt ông chuyển sang thầy Chương. "Nếu tôi không nhầm, vị này chính là thầy Chương trong bài văn?"
Từ lúc thầy Tô bước vào văn phòng, thầy Chương không nói một tiếng. Lúc này, thầy đột nhiên đứng dậy, thân hình cao lớn của thầy không thể kìm chế sự run rẩy, hai bàn tay thầy nắm chặt mép bàn, tựa hồ chỉ cần buông tay, thầy sẽ ngã ngay xuống đất. Sắc mặt nhợt nhạt của thầy chuyển thành ửng đỏ vì xúc động, huyệt thái dương giật giật.
"Thầy... là..." Cuối cùng thầy Chương cũng mở miệng, run run hỏi: "Có phải... là Giáo sư Tô Văn không ạ?"
Giáo sư Tô ngẩn người. Ông quan sát thầy Chương tỉ mỉ như muốn nhìn thấu thầy. Sau đó, cơ mặt ông đột nhiên co giật, biểu lộ sự kinh ngạc và đau đớn tột độ. Người ông lắc lư như bị giật điện. Ông cất giọng nghẹn ngào và xúc động: "Con... con... Lẽ nào con là..."
Thầy Chương đột ngột cắt ngang lời Giáo sư Tô. Thầy gần như dùng toàn bộ sức lực khống chế bản thân một cách miễn cưỡng. Thầy chỉ tay ra cửa, ra lệnh bằng giọng nghiêm nghị: "Liễu Địch, mời em ra ngoài!"
Liễu Địch vẫn chưa hết ngạc nhiên khi chứng kiến cảnh tượng trước mặt. Cô chưa bao giờ thấy thầy Chương xúc động như vậy. Lẽ nào, đây lại là một chuyện "không thể tưởng tượng nổi"? Nghe thầy Chương ra lệnh, cô hơi tái mặt nhưng vẫn không nhúc nhích.
"Liễu Địch, ra ngoài!" Ngữ khí của thầy Chương mang sự uy nghiêm không thể kháng cự. Lần này, thầy lược bớt từ "mời".
Liễu Địch ngơ ngác nhìn hai gương mặt đầy vẻ xúc động. Cô đột nhiên hiểu ra vấn đề, nơi này bất luận xảy ra chuyện gì cũng đều thuộc về thầy Chương và Giáo sư Tô, chứ không thuộc về cô. Liễu Địch cắn môi, đi nhanh ra ngoài, còn biết ý khép cửa, để lại không gian cho hai người.
Đi đến cuối hành lang, Liễu Địch gặp hiệu trưởng Cao. Ông đứng tựa vào lan can, trên tay là điếu thuốc lá, miệng nhả khói mù mịt. Liễu Địch đi đến, đứng bên cạnh ông.
"Sao rồi?" Hiệu trưởng Cao hỏi: "Em đã gặp Giáo sư Tô chưa?"
"Em gặp rồi ạ!" Liễu Địch trả lời ngắn gọn. "Giáo sư Tô và thầy Chương hình như quen biết nhau. Hai người đều rất xúc động."
"Cũng có thể." Hiệu trưởng Cao không hề tỏ ra ngạc nhiên. "Thầy Chương từng là sinh viên xuất sắc của Bắc Đại."
"Em biết ạ!" Liễu Địch nói nhỏ. Một lúc sau, cô quay sang hiệu trưởng Cao, nói: "Thầy hiệu trưởng, xin thầy hãy kể cho em nghe quá khứ của thầy Chương. Mọi người đều nói thầy là người hiểu rõ thầy Chương nhất."
"Hả?" Hiệu trưởng Cao nhíu mày, nhìn Liễu Địch. "Chẳng phải em cũng biết rõ về thầy Chương hay sao?"
Liễu Địch lắc đầu. "Em không biết nhiều đâu ạ! Thầy Chương rất ít khi nói chuyện cuộc đời thầy cho em nghe. Em chỉ biết thầy là người Tô Châu, học đại học ở Bắc Đại. Em biết thầy giỏi về mỹ thuật và văn học, thích chơi guitar, thích ngắm biển, đọc rất nhiều sách. Em còn biết nguyên nhân vì sao thầy bị mù hai mắt."
Hiệu trưởng Cao cười ôn hòa. "Em cũng biết khá nhiều đấy chứ! Có điều, nếu em muốn nghe, tôi sẽ kể cho em những điều tôi biết về thầy Chương. Tôi nghĩ em có tư cách nghe một số chuyện liên quan đến cuộc đời cậu ấy."
Hiệu trưởng Cao lại nhả một vòng tròn khói, nhìn chăm chăm vào làn khói đang tan dần trong không khí, từ từ chìm vào hồi ức xa xăm: "Tôi và bố thầy Chương là bạn bè thân thiết. Chúng tôi cùng học ở trường Đại học Sư phạm. Tôi học ngành Toán, còn ông ấy học chuyên ngành Mỹ thuật. Thời đi học, chúng tôi là bạn tâm đầu ý hợp. Sau khi ra công tác, tuy chúng tôi kẻ Nam người Bắc nhưng vẫn giữ liên lạc. Sau đó, dưới sự động viên của tôi, ông ấy đã chuyển đến thành phố này, làm giáo viên dạy mỹ thuật ở trường chúng ta. Ai ngờ chỉ nửa năm sau... Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn tự trách mình, nếu tôi không khuyên bố thầy Chương đến đây, có lẽ bi kịch sẽ không xảy ra. Vì vậy, mỗi lần đối mặt với thầy Chương, tôi đều cảm thấy vô cùng day dứt."
"Thầy hiệu trưởng, thầy không cần cảm thấy day dứt đâu ạ!" Liễu Địch đột nhiên lên tiếng. "Không ai có thể biết liệu bi kịch có xảy ra hay không, thầy cũng không thể đoán trước số mệnh và tương lai."
Hiệu trưởng Cao nhìn Liễu Địch bằng ánh mắt cảm kích, buông tiếng thở dài. "Chương Ngọc cũng thường nói như vậy, nhưng tôi vẫn không thể tha thứ cho bản thân. Lần đầu tôi gặp Chương Ngọc là vào kỳ nghỉ đông năm đó. Cậu ấy là một chàng trai có lý tưởng, có trí tuệ, lại rất sâu sắc. Có thể nói, vừa nhìn thấy cậu ấy, tôi đã thích ngay lập tức. Tôi từng đến ngôi nhà của Chương Ngọc, cậu ấy thuê một ngôi nhà nhỏ, nói là để tiện viết luận văn tốt nghiệp. Chúng tôi đã trò chuyện mấy tiếng đồng hồ tại ngôi nhà nhỏ của cậu ấy. Trong cuộc đời, tôi chưa bao giờ gặp chàng trai nào tài hoa như Chương Ngọc. Cậu ấy có tri thức phong phú, tư tưởng sâu sắc, suy nghĩ xuất chúng... Tóm lại, cậu ấy quá tài giỏi, quá xuất sắc, đến mức khiến người khác ghen tị. Tôi không chỉ yêu quý cậu ấy mà còn rất tán thưởng tài năng của cậu ấy. Tôi thường nghĩ, nếu không xảy ra vụ hỏa hoạn đó, không biết Chương Ngọc sẽ là nhân tài chói sáng thế nào. Nhưng vụ hỏa hoạn đã hủy hoại cuộc đời cậu ấy..."
Hiệu trưởng Cao cúi đầu nhìn điếu thuốc trong tay. Sắc mặt ông nặng nề, ánh mắt buồn bã đến cực điểm.
"Lúc tôi vội vàng đến bệnh viện, bố mẹ Chương Ngọc đã qua đời, còn cậu ấy hôn mê bất tỉnh. Tôi ngồi bên giường cậu ấy suốt hai ngày hai đêm. Vết bỏng trên người Chương Ngọc không đáng kể, nhưng cậu ấy bị chấn động não rất mạnh, vì cả bức tường đè xuống người cậu ấy. Ngày thứ ba, Chương Ngọc tỉnh lại. Tuy nhiên, hai mắt cậu ấy chẳng nhìn thấy thứ gì nữa. Lúc đó, bác sỹ không thể chẩn đoán Chương Ngọc có bị mù vĩnh viễn hay không. Do cậu ấy khăng khăng yêu cầu, bác sĩ đành tiến hành phẫu thuật. Cuối cùng, ca mổ thất bại." Hiệu trưởng Cao im lặng một lát rồi kể tiếp: "Tôi còn nhớ rõ ngày tháo vải băng. Lúc từng lớp vải băng trắng rời khỏi mắt Chương Ngọc, tôi căng thẳng đến mức không thở nổi. Ngay cả bác sĩ đứng bên cạnh tôi, trán cũng rịn đầy mồ hôi. Sau khi tháo hết vải băng, chúng tôi nín thở nhìn Chương Ngọc. Cậu ấy bình tĩnh ngồi ở đó. Căn phòng yên tĩnh đến cực điểm, chỉ có tiếng đồng hồ tích tắc. Tôi không nhớ sự trầm mặc đó kéo dài bao lâu, nhưng đối với tôi, nó dài hơn một thế kỷ. Sau đó, Chương Ngọc mở miệng, giọng cậu ấy hoàn toàn bình thản. Cậu ấy hỏi bác sĩ: "Có phải từ nay về sau, mắt cháu sẽ bị mù vĩnh viễn?" Chúng tôi lập tức hiểu ra vấn đề. Bác sĩ muốn nói dối một câu thiện ý, nhưng vẻ mặt của Chương Ngọc khiến ông ta không có cách nào lừa dối cậu ấy. Bác sĩ đành nói thật, mắt cậu ấy vĩnh viễn không thể nhìn thấy ánh sáng nữa. Chương Ngọc lặng lẽ gật đầu. Tôi đứng bên cạnh, cảm thấy vô cùng đau lòng, vậy mà cậu ấy nói với tôi bằng giọng điệu bình thản đến kỳ lạ: "Chú Cao, chúng ta về phòng bệnh thôi!" Kể từ hôm đó, Chương Ngọc lặng lẽ nằm trên giường bệnh, rất hiếm khi nói chuyện. Tôi sợ cậu ấy nghĩ quẩn nên thường trò chuyện với cậu ấy. Nhìn thấu tâm tư của tôi, Chương Ngọc nói: "Chú Cao, cháu không sao, sẽ không xảy ra chuyện gì đâu." Lúc đó, tôi không dám báo tin bố mẹ cậu ấy đã qua đời vì sợ cậu ấy không chịu đựng nổi. Nhưng một hôm, Chương Ngọc đột nhiên hỏi tôi: "Chú Cao, bố mẹ cháu đã mất rồi phải không?" Trong lòng tôi xót xa vô cùng, cậu bé này quá thông minh, đúng là không thể giấu giếm cậu ấy bất cứ điều gì. Tôi hết cách, đành phải nói thật với cậu ấy. Chương Ngọc không khóc, chỉ câm lặng suốt một ngày trời."
Hiệu trưởng Cao lại một lần nữa dừng lại. Điếu thuốc trên tay ông đã cháy gần hết, ông nhìn đốm lửa nhỏ đến mức thất thần. Liễu Địch nhìn xuống, cắn chặt môi, không nói một lời. Một lúc sau, hiệu trưởng Cao ném đầu mẩu thuốc, châm một điếu thuốc khác, rít một hơi rồi nhả khói.
"Một tuần sau, Chương Ngọc chủ động xin xuống giường tập đi, đồng thời bắt đầu luyện tập thính lực. Cậu ấy từ chối sử dụng cây gậy của người mù, thà bị vấp ngã hết lần này đến lần khác. Cậu ấy luyện tập rất khổ cực nhưng tiến bộ cũng rất nhanh. Có thể thấy Chương Ngọc đang tích cực thích ứng với bóng tối, nỗ lực tiếp tục cuộc sống. Nửa năm sau, Chương Ngọc xuất viện. Trong thời gian nằm viện, tôi không hề nghe cậu ấy nói một câu oán trách trời đất, oán trách số phận, thậm chí không một tiếng kêu than. Về đến nhà, chính là ngôi nhà nhỏ mà cậu ấy thuê, Chương Ngọc kiên quyết trả lại tôi toàn bộ số tiền viện phí mà tôi ứng trước và chi phí lo tang lễ cho bố mẹ cậu ấy. Chương Ngọc giống bố cậu ấy ở điểm, không bao giờ vô duyên vô cớ nhận ân huệ của người khác. Chương Ngọc dùng tiền bảo hiểm và tiền bồi thường của bố mẹ cậu ấy để trả nợ. Còn lại một ít, cũng vừa đủ cho cậu ấy sinh sống trong một năm. Vấn đề tìm kế sinh nhai bày ra trước mặt cậu ấy một cách tàn khốc. Nhưng Chương Ngọc không chịu dọn đến nhà tôi, kiên quyết sống tự lập. Sau một thời gian suy nghĩ, Chương Ngọc nói với tôi, cậu ấy muốn đi dạy học.
Tôi giật mình kinh ngạc, điều này vốn không thể! Nhưng thái độ của cậu ấy rất dứt khoát. Chương Ngọc nói cậu ấy học được chút kiến thức ở trường đại học, không thể để mai một. Nếu suốt đời này cậu ấy không có cơ hội sử dụng những tri thức đó, vậy thì cậu ấy sẽ truyền lại cho thế hệ sau. Cậu ấy nhờ tôi giúp cậu ấy ghi âm toàn bộ giáo trình và tài liệu tham khảo môn Ngữ văn của cấp ba, sau đó cậu ấy chăm chỉ nghe và học. Chương Ngọc còn bảo tôi dẫn đến trường dự thính các buổi dạy của thầy cô giáo khác. Có thể thấy cậu ấy hết sức nỗ lực, tinh thần học hỏi của cậu ấy khó có ai bì kịp.
Thế nhưng, một người mù dạy học là chuyện rất khó khăn, thậm chí khó có thể tưởng tượng. Hơn nữa, ai đồng ý cho Chương Ngọc cơ hội làm giáo viên? Đây chẳng phải là bài toán khó cho tôi? Cậu ấy nói với tôi: "Chú Cao, cháu biết chú rất khó xử. Cháu rất hiếm khi cầu xin người khác, nhưng hôm nay, cháu cầu xin chú nể tình bố cháu, giúp cháu một lần." Ngữ khí của Chương Ngọc rất chân thành và bi ai, làm sao tôi có thể từ chối cơ chứ? Nếu không phải do tôi, Chương Ngọc đã không rơi vào cảnh "cầu xin người khác" này. Tôi nợ cậu ấy và bố mẹ cậu ấy. Thế là tôi dốc hết sức lực, vận dụng các mối quan hệ, cuối cùng Chương Ngọc cũng có thể đi dạy. Dù không phải là giáo viên biên chế nhưng Chương Ngọc cũng rất mãn nguyện, bởi cậu ấy chỉ cần được đứng trên bục giảng. Cứ như vậy, Chương Ngọc thử dạy lớp các em đầu tiên. Không ngờ cậu ấy dạy quá tốt. Trong trường có rất nhiều giáo viên Ngữ văn, vậy mà không ai vượt qua được một người mù."
Nghe đến đây, Liễu Địch đột nhiên nói: "Thầy hiệu trưởng, câu này thầy nói sai rồi. Đây không phải vấn đề đôi mắt, mà là vấn đề trình độ và năng lực. Các thầy cô giáo khác không thể vượt qua thầy Chương vì trình độ và năng lực của họ không bằng thầy Chương."
Hiệu trưởng Cao kinh ngạc nhìn Liễu Địch. Cô nữ sinh có vẻ hiền lành, ngoan ngoãn này lại có cách nhìn độc đáo và sâu sắc, thảo nào cô bé trở thành "trạng nguyên" khối Văn.
"Liễu Địch, em nói rất đúng. Môn Ngữ văn ở thời trung học cần chú trọng bồi dưỡng năng lực của học sinh, bồi dưỡng khả năng cảm thụ ngôn từ của học sinh chứ không phải truyền thụ kiến thức theo kiểu nhồi vịt. Ngay từ đầu, thầy Chương đã nắm bắt chuẩn xác điểm này. Một số thầy cô dạy học mười mấy năm cũng không lĩnh hội được đạo lý đó. Thầy Chương quả nhiên là thiên tài." Hiệu trưởng Cao thở dài. "Tôi không thể tưởng tượng, nếu tôi gặp tai nạn khủng khiếp như cậu ấy, tôi sẽ sa sút, chán nản đến mức nào. Thầy Chương là người kiên cường, quá kiên cường."
Đâu chỉ đơn giản là sự kiên cường? Liễu Địch chợt nhớ đến hai bức tranh sơn dầu của thầy Chương, nhớ đến mặt trời bi tráng ở trên biển và chồi non trên cành cây khô, nhớ đến lời miêu tả của thầy Chương về "bóng tối". Cô đột nhiên ngẩng đầu, cất giọng thâm trầm và trịnh trọng: "Thầy hiệu trưởng, thầy Chương không chỉ kiên cường. Thầy ấy luôn chống lại bóng tối. Thầy ấy từng nói với em, thầy ấy không thể đánh bại bóng tối. Nhưng hôm nay, nghe những lời của thầy, em mới hiểu rõ, dù biết bản thân sẽ thất bại nhưng thầy Chương vẫn ngoan cường chiến đấu. Mặc dù vận mệnh đã an bài nhưng thầy ấy vẫn muốn đọ sức với số phận. Thầy ấy thà làm một người thất bại oanh liệt, chứ không muốn làm kẻ hèn nhát nằm phủ phục dưới chân vận mệnh, tỏ vẻ đáng thương. Thầy ấy là một dũng sĩ, một anh hùng, dù theo kiểu bi kịch đi chăng nữa."
Hiệu trưởng Cao há hốc miệng lắng nghe. Ông quay người, nhìn chằm chằm Liễu Địch. Một lúc lâu sau, ông mới buông tiếng thở dài, cảm khái một câu: "Liễu Địch, em mới là người hiểu thầy Chương nhất."
Đúng lúc này, cửa văn phòng của thầy Chương mở ra, Giáo sư Tô Văn đi ra ngoài. Hiệu trưởng Cao và Liễu Địch lập tức tiến lại gần nghênh đón. Giáo sư Tô đã lấy lại vẻ mặt bình tĩnh nhưng khóe mắt ông vẫn còn dấu vết của giọt lệ. Giáo sư đi đến bên Liễu Địch, rút ra một phong bì, trên có đề tên Liễu Địch.
Liễu Địch nhận giấy báo trúng tuyển mà cô mong chờ đã lâu. Dù đã trông chờ mòn mỏi một thời gian dài, nhưng Liễu Địch không cảm thấy xúc động và vui mừng như cô hằng tưởng tượng. Ngược lại, cô có vẻ thẫn thờ và buồn bã. Cô đưa mắt nhìn ngày tháng trên tờ giấy báo: ngày Một tháng Chín. Chỉ còn chín ngày nữa là cô nhập học.
"Liễu Địch." Giáo sư Tô nói: "Tôi đã nói với thầy Chương để em tiễn tôi ra bến xe. Tôi muốn nhìn thấy trạm xe buýt mà em miêu tả trong bài văn."
Liễu Địch gật đầu. Cô chào tạm biệt hiệu trưởng Cao rồi cùng Giáo sư Tô đi đến trạm xe buýt nhỏ.
Mặt trời chiều vẫn toả ánh nắng gay gắt, nhưng gió thổi mát rượi, lá cây đung đưa, xào xạc. Giáo sư Tô quan sát cây dương liễu, đưa mắt nhìn khóm đinh hương rồi dừng lại ở tấm biển báo xe buýt. Cuối cùng, ông nói khẽ: "Đến bây giờ tôi hoàn toàn tin mỗi câu từ trong bài văn của em đều là sự thật, một sự thật "không thể tưởng tượng nổi"."
Giọng nói của Giáo sư Tô ẩn chứa nỗi đau mãnh liệt, tựa hồ ông không muốn đối diện với "sự thật" này. Liễu Địch lập tức nhận ra nguồn gốc của nỗi đau đó. Cô cất tiếng hỏi: "Thưa Giáo sư, thầy Chương là học sinh của Giáo sư phải không ạ?"
Giáo sư Tô gật đầu, ánh mắt đầy vẻ bi thương và bất lực. "Đúng vậy, cậu ấy là học trò của tôi, đồng thời là sinh viên xuất sắc nhất khoa Trung văn, Đại học Bắc Kinh. Hầu hết thầy cô trong khoa đều cho rằng tiền đồ của cậu ấy vô cùng xán lạn, tương lai của cậu ấy là con đường thẳng tắp. Chỉ còn nửa năm nữa là cậu ấy tốt nghiệp, khoa đã quyết định để cậu ấy chuyển tiếp lên nghiên cứu sinh. Nhưng sau kỳ nghỉ đông, cậu ấy biệt vô âm tín. Chúng tôi từng gọi điện thoại về Tô Châu, quê của cậu ấy. Tôi còn đích thân đi Tô Châu tìm cậu ấy nhưng không có chút manh mối. Lúc đó, tôi không biết gia đình cậu ấy đã chuyển đến thành phố này. Nếu biết, chắc tôi cũng... Khụ khụ... Tôi nằm mơ cũng không ngờ cậu ấy lại ra nông nỗi này. Tôi thậm chí suýt không nhận ra cậu ấy..."
Giáo sư Tô đột nhiên dừng lại, sắc mặt trắng bệch như tờ giấy, toàn thân run rẩy. Liễu Địch vội giơ tay đỡ ông, sống mũi cô cay cay. Trong giây phút này, cô chợt hiểu ra Giáo sư Tô rất yêu quý thầy Chương. Thầy Chương nhất định từng là học trò mà ông tâm đắc nhất.
Giáo sư Tô từ từ bình tĩnh lại. Sau đó, ánh mắt ông dừng lại trên gương mặt Liễu Địch hồi lâu. Ông nhìn rất chăm chú, tựa hồ coi Liễu Địch là đối tượng nghiên cứu. Liễu Địch ngượng ngùng cúi đầu. Giáo sư Tô thở dài một tiếng. "Liễu Địch, em thật sự rất đẹp."
Giọng điệu của ông chứa đựng sự phiền muộn và tiếc nuối. Liễu Địch không hiểu ý của Giáo sư Tô nên ngẩng đầu. Cô phát hiện trong mắt Giáo sư Tô đầy vẻ yêu mến và thương xót. Ánh mắt của ông khiến Liễu Địch không khỏi xúc động. Cô có thể cảm nhận rõ ràng, tình cảm yêu mến của Giáo sư Tô đối với cô là xuất phát từ đáy lòng. Nhưng tại sao ông lại cảm thấy phiền muộn và tiếc nuối?
"Liễu Địch!" Giáo sư Tô đột nhiên chuyển sang chuyện khác: "Em... em có thích thầy Chương không?"
"Em sùng bái thầy ấy." Liễu Địch không hề nghĩ ngợi, trả lời ngay lập tức.
"Ờ." Giáo sư Tô hít một hơi sâu. "Chỉ có vậy thôi sao?"
Liễu Địch nỗ lực tìm câu từ thích hợp: "Thầy Chương thường khiến em kinh ngạc và chấn động, không chỉ bởi tri thức mà phần lớn là bởi tư tưởng và tình cảm của thầy. Mỗi khi ở bên cạnh thầy, dù chẳng nói một câu, em vẫn cảm thấy tư tưởng của em ngày càng sâu sắc, tinh thần của em đang thăng hoa, tâm hồn ngày càng trong sáng. Có thể nói thầy ảnh hưởng từng giây từng phút đến em. Có lúc em cảm thấy trái tim em và trái tim thầy rất gần gũi, thậm chí hoàn toàn hòa nhập. Đôi lúc em cảm thấy giữa em và thầy như có thần giao cách cảm. Thầy Chương luôn giữ khoảng cách với người khác, đối với em, có lúc... thầy cũng như vậy." Liễu Địch đột nhiên cảm thấy chua xót, cô từ từ cúi thấp đầu. "Có lúc em cảm thấy khoảng cách giữa em và thầy đã rất gần, nhưng chỉ một câu nói, một động tác, thậm chí một biểu hiện của thầy, khoảng cách đó lại nới rộng. Cảm giác này... thật không dễ chịu chút nào."
Nói đến đây, Liễu Địch đột nhiên ngẩng đầu, hai mắt sáng lấp lánh. "Mặc dù vậy, em vẫn khao khát được ở bên thầy. Em thật sự mong muốn điều đó."
Giáo sư Tô ngẩn người lắng nghe. Ông trầm tư suy nghĩ điều gì đó, như muốn thông qua lời nói của Liễu Địch, kiểm chứng suy đoán trong lòng mình. Sau đó, Giáo sư Tô lặng lẽ thở dài. Kể từ lúc rời khỏi văn phòng của thầy Chương, ông thở dài không biết bao nhiêu lần.
Giáo sư Tô đột nhiên nắm tay Liễu Địch, cất giọng khẩn thiết: "Liễu Địch, em hãy ở bên cạnh thầy Chương nhiều hơn. Sau khi em đi học đại học, thầy Chương sẽ cô độc biết bao. Ngày tháng em ở bên thầy không còn nhiều nữa."
Giọng của Giáo sư Tô vừa chân thành vừa bi ai, Liễu Địch cũng bị ảnh hưởng. Cô hít một hơi sâu để kìm nén nỗi xót xa trong lòng. Sau đó, cô nghẹn ngào nói: "Vâng ạ!"
Xe buýt tới nơi, Liễu Địch đỡ Giáo sư Tô lên xe. Trước khi xe chuyển bánh, Giáo sư Tô đột nhiên ló đầu ra ngoài cửa xe, chân thành nói với Liễu Địch: "Liễu Địch, khi nào đến Bắc Đại, em nhất định phải đi tìm tôi trước. Nhà tôi ở Trúc Ngâm Cư thuộc Kính Xuân Viên. Nếu em không đến, tôi sẽ giận đó."
Đây đâu phải là lời tạm biệt của một người thầy, rõ ràng là lời dặn dò của bậc trưởng bối với hậu bối, của người cha hiền từ đối với con gái. Khóe mắt Liễu Địch ngân ngấn nước. Cô lặng lẽ dõi theo chiếc xe buýt cho đến khi nó biến mất ở phía đầu đường.
Không hiểu sao bên tai Liễu Địch vang vọng giọng nói bi thương và khẩn thiết của Giáo sư Tô: "Liễu Địch, em hãy ở bên cạnh thầy Chương nhiều hơn. Sau khi em đi học đại học, thầy Chương sẽ cô độc biết bao. Ngày tháng em ở bên thầy không còn nhiều nữa."
"Thầy hiệu trưởng, thầy không cần cảm thấy day dứt đâu ạ!" Liễu Địch đột nhiên lên tiếng. "Không ai có thể biết liệu bi kịch có xảy ra hay không, thầy cũng không thể đoán trước số mệnh và tương lai."
Hiệu trưởng Cao nhìn Liễu Địch bằng ánh mắt cảm kích, buông tiếng thở dài. "Chương Ngọc cũng thường nói như vậy, nhưng tôi vẫn không thể tha thứ cho bản thân. Lần đầu tôi gặp Chương Ngọc là vào kỳ nghỉ đông năm đó. Cậu ấy là một chàng trai có lý tưởng, có trí tuệ, lại rất sâu sắc. Có thể nói, vừa nhìn thấy cậu ấy, tôi đã thích ngay lập tức. Tôi từng đến ngôi nhà của Chương Ngọc, cậu ấy thuê một ngôi nhà nhỏ, nói là để tiện viết luận văn tốt nghiệp. Chúng tôi đã trò chuyện mấy tiếng đồng hồ tại ngôi nhà nhỏ của cậu ấy. Trong cuộc đời, tôi chưa bao giờ gặp chàng trai nào tài hoa như Chương Ngọc. Cậu ấy có tri thức phong phú, tư tưởng sâu sắc, suy nghĩ xuất chúng... Tóm lại, cậu ấy quá tài giỏi, quá xuất sắc, đến mức khiến người khác ghen tị. Tôi không chỉ yêu quý cậu ấy mà còn rất tán thưởng tài năng của cậu ấy. Tôi thường nghĩ, nếu không xảy ra vụ hỏa hoạn đó, không biết Chương Ngọc sẽ là nhân tài chói sáng thế nào. Nhưng vụ hỏa hoạn đã hủy hoại cuộc đời cậu ấy..."
Hiệu trưởng Cao cúi đầu nhìn điếu thuốc trong tay. Sắc mặt ông nặng nề, ánh mắt buồn bã đến cực điểm.
"Lúc tôi vội vàng đến bệnh viện, bố mẹ Chương Ngọc đã qua đời, còn cậu ấy hôn mê bất tỉnh. Tôi ngồi bên giường cậu ấy suốt hai ngày hai đêm. Vết bỏng trên người Chương Ngọc không đáng kể, nhưng cậu ấy bị chấn động não rất mạnh, vì cả bức tường đè xuống người cậu ấy. Ngày thứ ba, Chương Ngọc tỉnh lại. Tuy nhiên, hai mắt cậu ấy chẳng nhìn thấy thứ gì nữa. Lúc đó, bác sỹ không thể chẩn đoán Chương Ngọc có bị mù vĩnh viễn hay không. Do cậu ấy khăng khăng yêu cầu, bác sĩ đành tiến hành phẫu thuật. Cuối cùng, ca mổ thất bại." Hiệu trưởng Cao im lặng một lát rồi kể tiếp: "Tôi còn nhớ rõ ngày tháo vải băng. Lúc từng lớp vải băng trắng rời khỏi mắt Chương Ngọc, tôi căng thẳng đến mức không thở nổi. Ngay cả bác sĩ đứng bên cạnh tôi, trán cũng rịn đầy mồ hôi. Sau khi tháo hết vải băng, chúng tôi nín thở nhìn Chương Ngọc. Cậu ấy bình tĩnh ngồi ở đó. Căn phòng yên tĩnh đến cực điểm, chỉ có tiếng đồng hồ tích tắc. Tôi không nhớ sự trầm mặc đó kéo dài bao lâu, nhưng đối với tôi, nó dài hơn một thế kỷ. Sau đó, Chương Ngọc mở miệng, giọng cậu ấy hoàn toàn bình thản. Cậu ấy hỏi bác sĩ: "Có phải từ nay về sau, mắt cháu sẽ bị mù vĩnh viễn?" Chúng tôi lập tức hiểu ra vấn đề. Bác sĩ muốn nói dối một câu thiện ý, nhưng vẻ mặt của Chương Ngọc khiến ông ta không có cách nào lừa dối cậu ấy. Bác sĩ đành nói thật, mắt cậu ấy vĩnh viễn không thể nhìn thấy ánh sáng nữa. Chương Ngọc lặng lẽ gật đầu. Tôi đứng bên cạnh, cảm thấy vô cùng đau lòng, vậy mà cậu ấy nói với tôi bằng giọng điệu bình thản đến kỳ lạ: "Chú Cao, chúng ta về phòng bệnh thôi!" Kể từ hôm đó, Chương Ngọc lặng lẽ nằm trên giường bệnh, rất hiếm khi nói chuyện. Tôi sợ cậu ấy nghĩ quẩn nên thường trò chuyện với cậu ấy. Nhìn thấu tâm tư của tôi, Chương Ngọc nói: "Chú Cao, cháu không sao, sẽ không xảy ra chuyện gì đâu." Lúc đó, tôi không dám báo tin bố mẹ cậu ấy đã qua đời vì sợ cậu ấy không chịu đựng nổi. Nhưng một hôm, Chương Ngọc đột nhiên hỏi tôi: "Chú Cao, bố mẹ cháu đã mất rồi phải không?" Trong lòng tôi xót xa vô cùng, cậu bé này quá thông minh, đúng là không thể giấu giếm cậu ấy bất cứ điều gì. Tôi hết cách, đành phải nói thật với cậu ấy. Chương Ngọc không khóc, chỉ câm lặng suốt một ngày trời."
Hiệu trưởng Cao lại một lần nữa dừng lại. Điếu thuốc trên tay ông đã cháy gần hết, ông nhìn đốm lửa nhỏ đến mức thất thần. Liễu Địch nhìn xuống, cắn chặt môi, không nói một lời. Một lúc sau, hiệu trưởng Cao ném đầu mẩu thuốc, châm một điếu thuốc khác, rít một hơi rồi nhả khói.
"Một tuần sau, Chương Ngọc chủ động xin xuống giường tập đi, đồng thời bắt đầu luyện tập thính lực. Cậu ấy từ chối sử dụng cây gậy của người mù, thà bị vấp ngã hết lần này đến lần khác. Cậu ấy luyện tập rất khổ cực nhưng tiến bộ cũng rất nhanh. Có thể thấy Chương Ngọc đang tích cực thích ứng với bóng tối, nỗ lực tiếp tục cuộc sống. Nửa năm sau, Chương Ngọc xuất viện. Trong thời gian nằm viện, tôi không hề nghe cậu ấy nói một câu oán trách trời đất, oán trách số phận, thậm chí không một tiếng kêu than. Về đến nhà, chính là ngôi nhà nhỏ mà cậu ấy thuê, Chương Ngọc kiên quyết trả lại tôi toàn bộ số tiền viện phí mà tôi ứng trước và chi phí lo tang lễ cho bố mẹ cậu ấy. Chương Ngọc giống bố cậu ấy ở điểm, không bao giờ vô duyên vô cớ nhận ân huệ của người khác. Chương Ngọc dùng tiền bảo hiểm và tiền bồi thường của bố mẹ cậu ấy để trả nợ. Còn lại một ít, cũng vừa đủ cho cậu ấy sinh sống trong một năm. Vấn đề tìm kế sinh nhai bày ra trước mặt cậu ấy một cách tàn khốc. Nhưng Chương Ngọc không chịu dọn đến nhà tôi, kiên quyết sống tự lập. Sau một thời gian suy nghĩ, Chương Ngọc nói với tôi, cậu ấy muốn đi dạy học.
Tôi giật mình kinh ngạc, điều này vốn không thể! Nhưng thái độ của cậu ấy rất dứt khoát. Chương Ngọc nói cậu ấy học được chút kiến thức ở trường đại học, không thể để mai một. Nếu suốt đời này cậu ấy không có cơ hội sử dụng những tri thức đó, vậy thì cậu ấy sẽ truyền lại cho thế hệ sau. Cậu ấy nhờ tôi giúp cậu ấy ghi âm toàn bộ giáo trình và tài liệu tham khảo môn Ngữ văn của cấp ba, sau đó cậu ấy chăm chỉ nghe và học. Chương Ngọc còn bảo tôi dẫn đến trường dự thính các buổi dạy của thầy cô giáo khác. Có thể thấy cậu ấy hết sức nỗ lực, tinh thần học hỏi của cậu ấy khó có ai bì kịp.
Thế nhưng, một người mù dạy học là chuyện rất khó khăn, thậm chí khó có thể tưởng tượng. Hơn nữa, ai đồng ý cho Chương Ngọc cơ hội làm giáo viên? Đây chẳng phải là bài toán khó cho tôi? Cậu ấy nói với tôi: "Chú Cao, cháu biết chú rất khó xử. Cháu rất hiếm khi cầu xin người khác, nhưng hôm nay, cháu cầu xin chú nể tình bố cháu, giúp cháu một lần." Ngữ khí của Chương Ngọc rất chân thành và bi ai, làm sao tôi có thể từ chối cơ chứ? Nếu không phải do tôi, Chương Ngọc đã không rơi vào cảnh "cầu xin người khác" này. Tôi nợ cậu ấy và bố mẹ cậu ấy. Thế là tôi dốc hết sức lực, vận dụng các mối quan hệ, cuối cùng Chương Ngọc cũng có thể đi dạy. Dù không phải là giáo viên biên chế nhưng Chương Ngọc cũng rất mãn nguyện, bởi cậu ấy chỉ cần được đứng trên bục giảng. Cứ như vậy, Chương Ngọc thử dạy lớp các em đầu tiên. Không ngờ cậu ấy dạy quá tốt. Trong trường có rất nhiều giáo viên Ngữ văn, vậy mà không ai vượt qua được một người mù."
Nghe đến đây, Liễu Địch đột nhiên nói: "Thầy hiệu trưởng, câu này thầy nói sai rồi. Đây không phải vấn đề đôi mắt, mà là vấn đề trình độ và năng lực. Các thầy cô giáo khác không thể vượt qua thầy Chương vì trình độ và năng lực của họ không bằng thầy Chương."
Hiệu trưởng Cao kinh ngạc nhìn Liễu Địch. Cô nữ sinh có vẻ hiền lành, ngoan ngoãn này lại có cách nhìn độc đáo và sâu sắc, thảo nào cô bé trở thành "trạng nguyên" khối Văn.
"Liễu Địch, em nói rất đúng. Môn Ngữ văn ở thời trung học cần chú trọng bồi dưỡng năng lực của học sinh, bồi dưỡng khả năng cảm thụ ngôn từ của học sinh chứ không phải truyền thụ kiến thức theo kiểu nhồi vịt. Ngay từ đầu, thầy Chương đã nắm bắt chuẩn xác điểm này. Một số thầy cô dạy học mười mấy năm cũng không lĩnh hội được đạo lý đó. Thầy Chương quả nhiên là thiên tài." Hiệu trưởng Cao thở dài. "Tôi không thể tưởng tượng, nếu tôi gặp tai nạn khủng khiếp như cậu ấy, tôi sẽ sa sút, chán nản đến mức nào. Thầy Chương là người kiên cường, quá kiên cường."
Đâu chỉ đơn giản là sự kiên cường? Liễu Địch chợt nhớ đến hai bức tranh sơn dầu của thầy Chương, nhớ đến mặt trời bi tráng ở trên biển và chồi non trên cành cây khô, nhớ đến lời miêu tả của thầy Chương về "bóng tối". Cô đột nhiên ngẩng đầu, cất giọng thâm trầm và trịnh trọng: "Thầy hiệu trưởng, thầy Chương không chỉ kiên cường. Thầy ấy luôn chống lại bóng tối. Thầy ấy từng nói với em, thầy ấy không thể đánh bại bóng tối. Nhưng hôm nay, nghe những lời của thầy, em mới hiểu rõ, dù biết bản thân sẽ thất bại nhưng thầy Chương vẫn ngoan cường chiến đấu. Mặc dù vận mệnh đã an bài nhưng thầy ấy vẫn muốn đọ sức với số phận. Thầy ấy thà làm một người thất bại oanh liệt, chứ không muốn làm kẻ hèn nhát nằm phủ phục dưới chân vận mệnh, tỏ vẻ đáng thương. Thầy ấy là một dũng sĩ, một anh hùng, dù theo kiểu bi kịch đi chăng nữa."
Hiệu trưởng Cao há hốc miệng lắng nghe. Ông quay người, nhìn chằm chằm Liễu Địch. Một lúc lâu sau, ông mới buông tiếng thở dài, cảm khái một câu: "Liễu Địch, em mới là người hiểu thầy Chương nhất."
Đúng lúc này, cửa văn phòng của thầy Chương mở ra, Giáo sư Tô Văn đi ra ngoài. Hiệu trưởng Cao và Liễu Địch lập tức tiến lại gần nghênh đón. Giáo sư Tô đã lấy lại vẻ mặt bình tĩnh nhưng khóe mắt ông vẫn còn dấu vết của giọt lệ. Giáo sư đi đến bên Liễu Địch, rút ra một phong bì, trên có đề tên Liễu Địch.
Liễu Địch nhận giấy báo trúng tuyển mà cô mong chờ đã lâu. Dù đã trông chờ mòn mỏi một thời gian dài, nhưng Liễu Địch không cảm thấy xúc động và vui mừng như cô hằng tưởng tượng. Ngược lại, cô có vẻ thẫn thờ và buồn bã. Cô đưa mắt nhìn ngày tháng trên tờ giấy báo: ngày Một tháng Chín. Chỉ còn chín ngày nữa là cô nhập học.
"Liễu Địch." Giáo sư Tô nói: "Tôi đã nói với thầy Chương để em tiễn tôi ra bến xe. Tôi muốn nhìn thấy trạm xe buýt mà em miêu tả trong bài văn."
Liễu Địch gật đầu. Cô chào tạm biệt hiệu trưởng Cao rồi cùng Giáo sư Tô đi đến trạm xe buýt nhỏ.
Mặt trời chiều vẫn toả ánh nắng gay gắt, nhưng gió thổi mát rượi, lá cây đung đưa, xào xạc. Giáo sư Tô quan sát cây dương liễu, đưa mắt nhìn khóm đinh hương rồi dừng lại ở tấm biển báo xe buýt. Cuối cùng, ông nói khẽ: "Đến bây giờ tôi hoàn toàn tin mỗi câu từ trong bài văn của em đều là sự thật, một sự thật "không thể tưởng tượng nổi"."
Giọng nói của Giáo sư Tô ẩn chứa nỗi đau mãnh liệt, tựa hồ ông không muốn đối diện với "sự thật" này. Liễu Địch lập tức nhận ra nguồn gốc của nỗi đau đó. Cô cất tiếng hỏi: "Thưa Giáo sư, thầy Chương là học sinh của Giáo sư phải không ạ?"
Giáo sư Tô gật đầu, ánh mắt đầy vẻ bi thương và bất lực. "Đúng vậy, cậu ấy là học trò của tôi, đồng thời là sinh viên xuất sắc nhất khoa Trung văn, Đại học Bắc Kinh. Hầu hết thầy cô trong khoa đều cho rằng tiền đồ của cậu ấy vô cùng xán lạn, tương lai của cậu ấy là con đường thẳng tắp. Chỉ còn nửa năm nữa là cậu ấy tốt nghiệp, khoa đã quyết định để cậu ấy chuyển tiếp lên nghiên cứu sinh. Nhưng sau kỳ nghỉ đông, cậu ấy biệt vô âm tín. Chúng tôi từng gọi điện thoại về Tô Châu, quê của cậu ấy. Tôi còn đích thân đi Tô Châu tìm cậu ấy nhưng không có chút manh mối. Lúc đó, tôi không biết gia đình cậu ấy đã chuyển đến thành phố này. Nếu biết, chắc tôi cũng... Khụ khụ... Tôi nằm mơ cũng không ngờ cậu ấy lại ra nông nỗi này. Tôi thậm chí suýt không nhận ra cậu ấy..."
Giáo sư Tô đột nhiên dừng lại, sắc mặt trắng bệch như tờ giấy, toàn thân run rẩy. Liễu Địch vội giơ tay đỡ ông, sống mũi cô cay cay. Trong giây phút này, cô chợt hiểu ra Giáo sư Tô rất yêu quý thầy Chương. Thầy Chương nhất định từng là học trò mà ông tâm đắc nhất.
Giáo sư Tô từ từ bình tĩnh lại. Sau đó, ánh mắt ông dừng lại trên gương mặt Liễu Địch hồi lâu. Ông nhìn rất chăm chú, tựa hồ coi Liễu Địch là đối tượng nghiên cứu. Liễu Địch ngượng ngùng cúi đầu. Giáo sư Tô thở dài một tiếng. "Liễu Địch, em thật sự rất đẹp."
Giọng điệu của ông chứa đựng sự phiền muộn và tiếc nuối. Liễu Địch không hiểu ý của Giáo sư Tô nên ngẩng đầu. Cô phát hiện trong mắt Giáo sư Tô đầy vẻ yêu mến và thương xót. Ánh mắt của ông khiến Liễu Địch không khỏi xúc động. Cô có thể cảm nhận rõ ràng, tình cảm yêu mến của Giáo sư Tô đối với cô là xuất phát từ đáy lòng. Nhưng tại sao ông lại cảm thấy phiền muộn và tiếc nuối?
"Liễu Địch!" Giáo sư Tô đột nhiên chuyển sang chuyện khác: "Em... em có thích thầy Chương không?"
"Em sùng bái thầy ấy." Liễu Địch không hề nghĩ ngợi, trả lời ngay lập tức.
"Ờ." Giáo sư Tô hít một hơi sâu. "Chỉ có vậy thôi sao?"
Liễu Địch nỗ lực tìm câu từ thích hợp: "Thầy Chương thường khiến em kinh ngạc và chấn động, không chỉ bởi tri thức mà phần lớn là bởi tư tưởng và tình cảm của thầy. Mỗi khi ở bên cạnh thầy, dù chẳng nói một câu, em vẫn cảm thấy tư tưởng của em ngày càng sâu sắc, tinh thần của em đang thăng hoa, tâm hồn ngày càng trong sáng. Có thể nói thầy ảnh hưởng từng giây từng phút đến em. Có lúc em cảm thấy trái tim em và trái tim thầy rất gần gũi, thậm chí hoàn toàn hòa nhập. Đôi lúc em cảm thấy giữa em và thầy như có thần giao cách cảm. Thầy Chương luôn giữ khoảng cách với người khác, đối với em, có lúc... thầy cũng như vậy." Liễu Địch đột nhiên cảm thấy chua xót, cô từ từ cúi thấp đầu. "Có lúc em cảm thấy khoảng cách giữa em và thầy đã rất gần, nhưng chỉ một câu nói, một động tác, thậm chí một biểu hiện của thầy, khoảng cách đó lại nới rộng. Cảm giác này... thật không dễ chịu chút nào."
Nói đến đây, Liễu Địch đột nhiên ngẩng đầu, hai mắt sáng lấp lánh. "Mặc dù vậy, em vẫn khao khát được ở bên thầy. Em thật sự mong muốn điều đó."
Giáo sư Tô ngẩn người lắng nghe. Ông trầm tư suy nghĩ điều gì đó, như muốn thông qua lời nói của Liễu Địch, kiểm chứng suy đoán trong lòng mình. Sau đó, Giáo sư Tô lặng lẽ thở dài. Kể từ lúc rời khỏi văn phòng của thầy Chương, ông thở dài không biết bao nhiêu lần.
Giáo sư Tô đột nhiên nắm tay Liễu Địch, cất giọng khẩn thiết: "Liễu Địch, em hãy ở bên cạnh thầy Chương nhiều hơn. Sau khi em đi học đại học, thầy Chương sẽ cô độc biết bao. Ngày tháng em ở bên thầy không còn nhiều nữa."
Giọng của Giáo sư Tô vừa chân thành vừa bi ai, Liễu Địch cũng bị ảnh hưởng. Cô hít một hơi sâu để kìm nén nỗi xót xa trong lòng. Sau đó, cô nghẹn ngào nói: "Vâng ạ!"
Xe buýt tới nơi, Liễu Địch đỡ Giáo sư Tô lên xe. Trước khi xe chuyển bánh, Giáo sư Tô đột nhiên ló đầu ra ngoài cửa xe, chân thành nói với Liễu Địch: "Liễu Địch, khi nào đến Bắc Đại, em nhất định phải đi tìm tôi trước. Nhà tôi ở Trúc Ngâm Cư thuộc Kính Xuân Viên. Nếu em không đến, tôi sẽ giận đó."
Đây đâu phải là lời tạm biệt của một người thầy, rõ ràng là lời dặn dò của bậc trưởng bối với hậu bối, của người cha hiền từ đối với con gái. Khóe mắt Liễu Địch ngân ngấn nước. Cô lặng lẽ dõi theo chiếc xe buýt cho đến khi nó biến mất ở phía đầu đường.
Không hiểu sao bên tai Liễu Địch vang vọng giọng nói bi thương và khẩn thiết của Giáo sư Tô: "Liễu Địch, em hãy ở bên cạnh thầy Chương nhiều hơn. Sau khi em đi học đại học, thầy Chương sẽ cô độc biết bao. Ngày tháng em ở bên thầy không còn nhiều nữa."
Chương 12
Đúng vậy, thời gian không còn nhiều. Từ lúc kết thúc kỳ thi đại học đến khi nhận được giấy báo trúng tuyển của Bắc Đại, Liễu Địch trải qua hơn bốn mươi ngày chờ đợi căng thẳng. Trong khi đó, khoảng thời gian từ lúc nhận được giấy báo cho đến ngày nhập học chỉ có chín ngày.
Trong chín ngày này, phần lớn thời gian Liễu Địch dùng để chuẩn bị hành lý. Cô có tính tự lập từ nhỏ, bình thường không cần bố mẹ lo lắng và bận tâm, nhưng đây là lần đầu tiên con gái đi xa, người làm cha làm mẹ không thể yên lòng. Mẹ Liễu Địch giúp cô sắp xếp quần áo, còn cô sắp xếp sách vở và đồ dùng học tập vào một chiếc va li. Liễu Địch hết mở va li rồi lại đóng vào, đóng vào lại mở ra, chỉ sợ bỏ sót thứ gì đó. Cô hận đến mức không thể mang cả căn phòng nhỏ của cô tới Bắc Đại.
Bố Liễu Địch không có việc gì để làm nên ngày ngày căn dặn, chỉ bảo Liễu Địch nhiều điều. Ông cứ nói mãi không thôi, những đạo lý ông nói có thể tập hợp thành một cuốn sách. Có lẽ đây là đặc điểm của các học giả.
Còn bạn bè thân hữu gần xa, không biết chui từ đâu ra, suốt ngày xuất hiện ở nhà Liễu Địch, chúc mừng này nọ. Tuy Liễu Địch không thích nhưng vẫn tiếp đón theo phép lịch sự. Tóm lại, Liễu Địch trải qua chín ngày cuối cùng trước khi nhập học trong trạng thái khẩn trương, bận rộn nhưng cũng rất thỏa mãn.
Cho dù bận đến mức nào, Liễu Địch cũng không quên thầy Chương. Bên tai cô thường vang lên câu nói khẩn thiết của Giáo sư Tô: "Hãy ở bên cạnh thầy Chương nhiều hơn." Do đó, mỗi buổi chiều, Liễu Địch dành thời gian đến trường tìm thầy Chương. Nhưng kể từ lúc Liễu Địch nhận được giấy báo trúng tuyển, thầy Chương không còn xuất hiện ở trường nữa. Một tuần liền, Liễu Địch không có cơ hội gặp thầy.
Trước hôm lên đường đi nhập học, Liễu Địch mạnh dạn tới nhà thầy Chương.
Vừa vào đến sân nhỏ, Liễu Địch phát hiện cửa nhà thầy Chương mở toang, cửa sổ cũng không buông rèm. Đi đến cửa ra vào, Liễu Địch có thể nhìn vào trong nhà. Thầy Chương đang giặt quần áo, tuy mắt không nhìn thấy nhưng thầy giặt đồ hết sức kĩ càng, chăm chú và thành thạo.
Liễu Địch kinh ngạc phát hiện, hôm nay thầy Chương không mặc áo trắng quần đen như thường lệ, thầy mặc áo sơ mi màu mận và quần jeans màu xanh đậm. Khi thầy Chương đứng dậy giũ quần áo, Liễu Địch mới chú ý, thân hình thầy cao lớn, đôi chân dài thẳng tắp. Thầy có mái tóc ngắn đen nhánh, đường nét trên gương mặt cương nghị, thầy đã thay cặp kính màu nâu trà. Không quan sát kĩ thì khó phát hiện thầy là người mù.
Thầy Chương bây giờ không còn vẻ âm trầm, nghiêm túc và lạnh lùng như trước. Thầy trẻ trung, khỏe mạnh và rất... nam tính. Liễu Địch không kìm được hét lên: "Thầy Chương, em không ngờ thầy đẹp trai như vậy!"
Thầy Chương ngẩn người: "Liễu Địch đấy à?" Thầy giũ quần áo rồi lấy mấy cái kẹp: "Đẹp trai? Cám ơn em. Đã năm năm rồi tôi chưa từng nghe lời tán dương tương tự." Thầy nhún vai tự giễu rồi mang quần áo ra ngoài sân phơi.
Năm năm rồi chưa từng nghe? Vậy năm năm trước, chắc thầy thường xuyên nhận được lời khen từ người khác. Liễu Địch trầm tư đi vào nhà. Cô mang theo hai tấm vải thưa màu xanh lá cây, treo chúng lên hai cửa sổ phía nam và phía bắc. Có tấm vải thưa, gian nhà được thông thoáng, ánh nắng rọi vào, mà người ở bên ngoài lại không nhìn thấy trong nhà, một mũi tên trúng ba đích.
Liễu Địch lờ mờ cảm thấy thầy Chương cũng thích màu xanh lá cây nhạt giống cô. Rất nhiều đồ ở trong nhà thầy có màu này, ví dụ ga trải giường, tấm vải phủ hòm gỗ, chiếc đèn bàn, đồng hồ báo thức, cốc chén uống trà. Cô không rõ tại sao thầy lại thích màu xanh lá cây, có lẽ thầy cũng giống cô, cho rằng màu xanh lá cây là biểu tượng của sự sống.
Thầy Chương đi vào nhà. Thầy đã đổ hết nước bẩn, rửa tay sạch sẽ. "Liễu Địch, bao giờ em lên đường?" Thầy trầm tư hỏi.
"Ngày mai ạ! Chuyến tàu lúc bảy giờ rưỡi tối."
Thầy Chương hít sâu một hơi. "Nhanh thật đấy!"
Liễu Địch không tiếp lời. Cô tìm đến cây guitar cũ của thầy Chương. Nó được thầy Chương đặt ở góc bờ tường phía bắc. Sau đó, Liễu Địch lấy ra sáu sợi dây đàn cô mới mua. Thế nhưng Liễu Địch chưa bao giờ thay dây đàn, cô không biết tháo, cũng không biết căng dây đàn, càng không biết dùng dụng cụ nào. Sợi dây đàn gỉ sét phát tiếng kêu tưng tưng khi Liễu Địch chạm vào. Một lúc sau, Liễu Địch mồ hôi nhễ nhại, nhưng cô vẫn không thay nổi một sợi dây.
Thầy Chương thở dài. "Được rồi, để tôi làm cho." Thầy cầm cây đàn, lấy từ ngăn kéo vài dụng cụ rồi bắt đầu làm việc. Thầy thành thạo tháo bỏ mấy sợi dây đàn cũ rồi nhanh chóng căng sáu sợi dây đàn mới. Liễu Địch chứng kiến cả quá trình với ánh mắt ngạc nhiên. Mặc dù không nhìn thấy nhưng động tác của thầy Chương vẫn rất chính xác, thoải mái. Xem ra thầy thật sự bỏ nhiều công sức vào cây guitar này.
Sau khi thay dây đàn, thầy Chương gảy thử rồi điều chỉnh độ căng chùng. Sau đó, thầy chơi một bản nhạc. Ban đầu, các ngón tay của thầy cứng ngắc vì dù sao cũng năm năm rồi thầy không động đến cây đàn. Nhưng chỉ một lúc sau, những ngón tay càng lúc càng điêu luyện, thày chơi đàn càng hăng say. Các ngón tay của thầy lướt nhanh trên các dây đàn. Tiếng nhạc du dương phát ra từ đầu ngón tay của thầy như sóng vỗ vào bờ đá, như nước mưa rơi trên cửa kính, như thác nước ào ào, như rừng cây xào xạc...
Liễu Địch không khỏi sửng sốt, kỹ thuật chơi guitar của thầy Chương giỏi hơn "nhóm nhạc nam" của lớp cô không biết bao nhiêu lần. Co bất giác bị tiếng guitar tuyệt diệu đó thu hút. Cô im lặng lắng nghe, nghe đến thất thần.
Thầy Chương như chìm đắm trong dòng suối âm nhạc rung động lòng người. Đường nét trên gương mặt thầy trở nên ôn hòa, khóe miệng ẩn hiện ý cười dịu dàng. Thầy như chìm trong hồi ức, trong thế giới riêng của thầy.
Dần dần, thầy Chương bắt đầu cất giọng hát trầm trầm theo tiếng guitar kỳ diệu. Thầy hát bằng tiếng Anh. Chỉ qua một, hai câu đầu, Liễu Địch phát hiện bài thầy hát chính là ca khúc Yesterday Once More mà cô hát hôm liên hoan cuối năm:
"When I was young
I'd listen to the radio
Waitin' for my favorite songs
When they played I'd sing along
It made me smile."
(Khi tôi còn nhỏ,
Tôi thường nghe radio,
Chờ đợi nghe những ca khúc mà tôi yêu thích,
Nhạc nổi lên, tôi cũng ngân nga hát theo,
Môi tôi khẽ nở nụ cười.)
Liễu Địch không khỏi choáng váng, cô không ngờ thầy Chương có giọng hát hay như vậy. Giọng của thầy trầm ấm, du dương. Đáng quý hơn, thầy có thể thể hiện được tinh thần ca khúc. Liễu Địch chống tay lên cằm, ngơ ngẩn ngắm nhìn thầy, nghe thầy tiếp tục hát:
"Those were such happy times
And not so long ago
How I wondered where they'd gone
But they're back again
Just like a long lost friend
All the songs I loved so well.
…
It was songs of love that
I would sing to then
And I'd memorize each word
Those old melodies
Still sound so good to me
As they melt the years away. "
(Quãng thời gian đó thật tươi đẹp
Và không quá xa vời
Tôi bâng khuâng thầm hỏi ngày thơ ấu giờ trôi về đâu
Nhưng rồi những ngày xưa đó đã quay về
Giống như một người bạn thân xưa cũ
Ôi, những bài hát tôi hằng yêu mến...
...
Đó là những bài hát tôi yêu
Mà rồi tôi sẽ lại ca vang
Từng câu từng chữ khắc sâu vào tâm trí
Những giai điệu thân quen
Nghe sao tuyệt vời
Như hòa quyện với những tháng năm.)
Đúng vậy, thời gian vui vẻ đã quay về, trở về theo tiếng đàn du dương và tiếng hát trầm ấm của thầy Chương. Thầy Chương bắt đầu hát hết bài này đến bài khác. Thầy toàn hát bằng tiếng nước ngoài, tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha. Thầy hát Edelweiss, Old Man River, Old Folks at Home, The Last Rose of Summer, Pigeon Song...
Thầy Chương quả nhiên "nhớ tất cả ca từ". Một số bài hát đúng là "hòa quyện với những tháng năm" của thầy. Gương mặt nhợt nhạt của thầy ửng hồng, toát lên vẻ dịu dàng. Niềm vui mất đi đã thật sự trở lại.
Liễu Địch im lặng lắng nghe, cô đã hoàn toàn chìm vào thế giới âm nhạc của thầy Chương, quên đi sự tồn tại của bản thân. Ca khúc lưu lại trong trí não thầy Chương dường như vô cùng vô tận, đều là những bản tình ca đi vào lòng người. Vì khả năng tiếng Anh khá tốt, Liễu Địch có thể nghe hiểu đại khái ca mà thầy hát. Còn bài hát tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha, Liễu Địch chịu chết.
Nhưng bất kể nghe hiểu hay không, Liễu Địch cũng đều bị những giai điệu của bài hát thu hút. Cô say sưa trong tiếng đàn hát, đắm say trong thế giới tình cảm thâm trầm, chìm đắm trong niềm vui và không khí ấm áp của ngôi nhà nhỏ này.
Lúc này, Liễu Địch lại nghe thầy Chương hát một ca khúc cô không biết tên:
"Tôi ra đời vì sự ra đời,
Tôi chết đi vì cái chết,
Tôi ra đời vì vì cái chết,
Tôi chết đi vì sự ra đời."
Đây là ca khúc gì vậy? Liễu Địch không rõ, cô chỉ cảm thấy lời bài hát rất đơn giản, nhưng lại không đơn giản một chút nào, tựa hồ ẩn chứa triết lý. Liễu Địch còn chưa kịp nghĩ sâu hơn, thầy Chương lại đổi sang bài hát khác:"I looked and saw your eyes
In the shadow of your hair,
As a traveller sees the stream
In the shadow of the wood;
And I said, "My faint heart sighs,
Ah me! to linger there,
To drink deep and to dream
In that sweet solitude."
I looked and saw your heart
In the shadow of your eyes,
As a seeker sees the gold
In the shadow of the stream;
And I said, "Ah me! what art
Should win the immortal prize,
Whose want must make life cold
And heaven a hollow dream?"
I looked and saw your love
In the shadow of your heart,
As a diver sees the pearl
In the shadow of the sea;
And I murmured, not above
My breath, but all apart,
"Ah! you can love, true girl,
And is your love for me?""
(Tôi nhìn thấy đôi mắt em ẩn hiện trong mái tóc mượt mà
Như kẻ lữ hành nhìn thấy dòng suối chảy trong rừng xanh,
Tôi thốt lên: "Trái tim mềm yếu của tôi đang ngâm nga, cần dừng lại
Uống no say và chìm vào giấc mộng trong sự tĩnh mịch ngọt ngào."
Tôi nhìn thấy trái tim của em qua đôi mắt,
Như người đào vàng tìm thấy vảy vàng óng ánh dưới dòng suối,
Tôi nói: "Ôi, nghệ thuật nào có thể giành được phần thưởng bất hủ,
Thiếu vắng nó, cuộc sống sẽ trở nên giá lạnh, thiên đường trở thành giấc mộng trống không."
Tôi nhìn thấy tình yêu của em trong hình bóng trái tim em
Như người thợ lặn nhìn thấy ngọc trai trong bóng mờ biển cả,
Tôi thì thầm, giọng nhẹ như hơi thở,
"A, cô gái chân chính, em có thể yêu, có thể yêu tôi không?")
Liễu Địch biết đây là một ca khúc được phổ nhạc từ bài thơ Three Shadows của nhà thơ kiêm họa sĩ người Anh gốc Ý Dante Gabriel Rossetti[1]. Nghe đến câu cuối cùng, tim Liễu Địch đập nhanh một nhịp. Giọng của thầy Chương có vẻ lạ thường, tựa hồ run run.
[1] Dante Gabriel Rossetti (1828 – 1882): nhà thơ, dịch giả, họa sĩ Anh gốc Ý, một trong những người sáng lập trào lưu Tiền Raphael nổi tiếng trong hội họa và thi ca Anh nửa cuối thế kỷ XIX.
Thầy từng thất tình? Bởi vì thầy bị mù hai mắt? Ý nghĩ này vừa vụt qua đầu Liễu Địch, thầy Chương đã chuyển sang một bài hát có giai điệu nhẹ nhàng của Mỹ Let It Be Forgotten:
"Let it be forgotten, as a flower is forgotten,
Forgotten as a fire that once was singing gold,
Let it be forgotten for ever and ever,
Time is a kind friend, he will make us old.
If anyone asks, say it was forgotten
Long and long ago,
As a flower, as a fire, as a hushed footfall
In a long forgotten snow."
(Hãy để cuộc tình lãng quên như đóa hoa bị chìm trong quên lãng,
Lãng quên như ngọn lửa đã có một lần reo tiếng hát vàng,
Hãy để cuộc tình chìm vào quên lãng đến mãi muôn đời,
Thời gian là người bạn tử tế, sẽ biến chúng ta thành già cũ,
Nếu có người nào hỏi, xin nói rằng cuộc tình đã chìm vào quên lãng,
Đã quá lâu rồi,
Như đóa hoa, như ngọn lửa, như bước chân thầm lặng,
Trong lãng quên băng tuyết phủ triền miên.)[2]
[2] Bài hát được phổ nhạc từ bài thơ của Sara Teasdale (1884 – 1933): nữ nhà thơ người Mỹ. Bản dịch của Hoàng Nguyên Chương.
Đúng vậy, Liễu Địch nhanh chóng quên đi nghi vấn vừa rồi, quên đi phiền não, quên đi ly biệt, quên gương mặt lạnh lùng trước đó của thầy Chương, quên tất cả những chuyện không vui. Cô chỉ cảm thấy không gian nhỏ bé này tràn ngập niềm hạnh phúc, âm nhạc là tươi đẹp, tiếng hát là tươi đẹp, thầy Chương là tươi đẹp, bản thân cô cũng tươi đẹp. Liễu Địch chưa bao giờ hưởng thụ khoảnh khắc đẹp đẽ như lúc này. Cô chưa bao giờ biết cuộc đời cũng có những giây phút thăng hoa như vậy. Liễu Địch lĩnh hội một cảm giác hoàn toàn mới mẻ, nắm bắt từng phút giây ấm áp.
Thầy Chương lại hát bài khác:
"I asked the heaven of stars
What I should give my love…
It answered me with silence,
Silence above.
I asked the darkened sea
Down where the fishers go…
It answered me with silence,
Silence below.
Oh, I could give him weeping,
Or I could give him song…
But how can I give silence
My whole life long?"[3]
[3] Bài hát được phổ nhạc từ bài thơ Night Song at Amalfi của Sara Teasdale
(Tôi hỏi bầu trời có những vì sao xán lạn,
Tôi nên trao cho tình yêu của tôi thứ gì,
Ông trời trả lời tôi bằng sự trầm mặc,
Sự trầm mặc của trời xanh.
Tôi hỏi đại dương tăm tối như bóng đêm,
Người đánh cá thường xuất hiện ở đâu,
Đại dương trả lời tôi bằng sự trầm mặc,
Sự trầm mặc của hạ giới.
Tôi có thể khóc vì nàng,
Tôi có thể hát tặng nàng,
Nhưng cuộc đời này,
Sao tôi có thể chỉ cho nàng sự trầm mặc?)
...
Không khí vui vẻ đột nhiên đột nhiên trở nên nặng nề. Khi thầy Chường hát đến câu: "Hỏi trời trời không thấu, hỏi đất đất không hay" bằng ngữ điệu đau thương, tâm hồn nhạy cảm của Liễu Địch lập tức bị ảnh hưởng. Cô cảm thấy một nỗi thê lương lan tỏa trong lòng, thay thế cảm giác yên bình và hạnh phúc vừa rồi. Theo bản năng, Liễu Địch cố gắng kháng cự sự "thay thế" đó.
May mà thầy Chương lại chuyển sang một ca khúc cô quen thuộc. Đó là bài All Kinds of Everything:
"Snowdrops and daffodils
butterflies and bees
sailboats and fishermen
things of the sea
wishing-wells
wedding bells
early morning dew
all kinds of everything remind me of you
Seagulls and aeroplanes
things of the sky
winds that go howlin'
breezes that sigh
city sights
neon lights
grey skies or blue
all kinds of everything remind me of you
Summertime
wintertime
spring and autumn too
Monday
Tuesday every day
I think of you.
Dances
romances
things of the night
sunshine and holidays
postcards to write
Budding trees
autumn leaves
a snowflake or two
all kinds of everything remind me of you.[4]"
[4] Bài hát do Dara, ca sĩ người Anh trình bày.(Những bông hoa tuyết và hoa thủy tiên,
Bươm Bướm và ong mật,
Thuyền buồm, ngư dân và mọi thứ trên biển cả,
Giếng ước nguyện và tiếng chuông đám cưới,
Giọng sương của buổi sớm mai,
Tất cả đều khiến tôi nhớ em.
Hải âu, máy bay và mọi thứ trên bầu trời,
Những ngọn gió thét gào hay vi vu,
Cảnh đẹp của thành phố, những ánh đèn neon, bầu trời trong xanh hay xám đục.
Tất cả đều khiến tôi nhớ em.
Mùa hè, mùa đông, mùa xuân và mùa thu nữa,
Thứ Hai, thứ Ba, và mỗi ngày,
Tôi đều nghĩ về em.
Từng điệu múa, từng câu tâm tình,
Vạn vật cùa màn đêm
Ánh nắng và kỳ nghỉ,
Những tấm bưu thiếp
Những cái cây đâm chồi
Những chiếc lá mùa thu,
Một, hai bông hoa tuyết
Tất cả đều khiến tôi nhớ em.)
Thầy Chương lặp đi lặp lại mấy lần câu hát: "All kinds of everything remind me of you." Nỗi bi thương trong lòng Liễu Địch ngày càng lan tỏa, nhanh chóng bao trùm trái tim cô. Không hiểu tại sao, giọt lệ dâng tràn lên viền mắt cô, làm mờ tầm nhìn của cô.
Cô đã nhận ra thầy Chương đang dùng tiếng hát để biểu đạt tình cảm của mình. Mọi thứ đều khiến thầy nhớ đến ai? Ngày mai, cô sẽ rời xa thầy, rời khỏi thành phố này, bắt đầu một trang mới trong cuộc đời ở nơi khác. Còn thầy Chương, thầy vẫn phải tiếp tục cuộc sống cô độc và khắc khổ ở nơi đây.
Mọi thứ, sao cô có thể không nhớ đến thầy Chương, nhớ đến khoảng thời gian ba năm khó quên? Chín ngày qua, mà không, ba năm qua, đây là lần đầu tiên cô nghe thấy rõ tiếng bước chân của sự ly biệt. Hóa ra sự ly biệt đã ở gần cô như vậy.
Trong tầm nhìn mơ hồ, Liễu Địch không rời mắt khỏi thầy Chương. Sắc mặt thầy phảng phất nỗi bi ai, thay thế nét dịu dàng ban nãy. Liễu Địch cố gắng không để nước mắt, cô tự nhủ: "Thầy Chương, thầy mau hát bài khác đi, em không chịu nổi nữa rồi!"
Thầy Chương quả nhiên đổi sang ca khúc khác, là bài dân ca Mỹ nổi tiếng Red River Valley. Âm điệu trầm thấp đẹp đẽ và bi thương từ ngón tay thầy Chương tuôn chảy, lan tỏa đến mỗi góc nhà:
"From this valley they say you'll be going,
We shall miss your bright eyes and sweet smile,
for they say you are taking the sunshine
That has brighten our pathways a while.
Come and sit by my side if you love me;
Do not hasten to bid me adieu,
Just remember the Red River Valley,
And the one who has loved you so true.
I’ve been thinking a long time, my darling
Of the sweet words you never would say,
Now, alas must my fond hopes have vanished
For they say that you're going away…"
(Nơi thung lũng này, họ nói em sắp ra đi
Chúng tôi chắc sẽ rất nhớ đôi mắt sáng ngời và nụ cười ngọt ngào của em
Họ nói em mang theo cả ánh nắng
Soi tỏa những con đường chúng ta đi.
Hãy ngồi cạnh anh nếu em yêu anh
Đừng vội vàng trao anh lời tạm biệt
Chỉ cần em nhớ đến thung lũng Dòng sông đó
Và chàng cao bồi yêu em say đắm
Anh đã nghĩ rất lâu rồi người yêu hỡi
Những lời ngọt ngào mà em sẽ không bao giờ nói ra
Cuối cùng thì những hy vọng yêu dấu của anh cũng tan biến
Vì họ nói em sắp ra đi…)
Thầy Chương đàn đi đàn lại ca khúc này... Giọng thầy thâm trầm, vẻ mặt nặng nề, u ám. Thầy như quên đi chính mình, hòa nhập vào bài hát. Dường như tất cả trái tim, sinh mệnh, tâm hồn của thầy đang diễn tấu.
Liễu Địch nghe đến mức ngẩn ngơ, cô hoàn thành bị tiếng đàn bi thương và giọng ca sầu muộn thu hút, hoàn toàn chìm vào cảm xúc ly biệt của bài hát. Cô mơ thấy mình đi đến bên thầy Chương, ngồi xuống cạnh thầy. Cô mơ thấy mình đặt tay lên vai thầy Chương, tựa hồ muốn an ủi tâm hồn cô độc và đau đớn, tựa hồn muốn trái tim mình hòa vào trái tim thầy. Liễu Địch chậm rãi cúi đầu, một giọt lệ lặng lẽ rơi xuống mu bàn tay đang gảy đàn của thầy Chương.
Bàn tay thầy Chương run rẩy. Sau đó, một tiếng sắc nhọn, vỡ vụn phát ra từ cây đàn kéo hai thầy trò từ trong mộng cảnh về thế giới hiện thực. Hai thầy trò cùng giật mình đứng dậy. Căn phòng vô cùng yên tĩnh, chỉ có dư âm của tiếng đàn ngân vang.
Một lúc lâu sau, tiếng đàn dừng hẳn, hai thầy trò vẫn im lặng. Liễu Địch lau nước mắt, ngước nhìn thầy Chương. Thầy đứng thẳng người như thân cây khô. Sắc mặt thầy trở lại vẻ lạnh nhạt thường ngày, sự dịu dàng và bi thương biến mất hoàn toàn.
Tuy nhiên, Liễu Địch nhìn thấy rõ một giọt lệ chảy ra từ đằng sau mắt kính màu nâu trà, lăn dài trên gương mặt trắng bệch của thầy.
"Thầy ơi, thầy khóc đấy à?" Liễu Địch khẽ nói. Thầy Chương đang khóc, giọt lệ thuần khiết nhất chảy ra từ khóe mắt của con người kiên cường lập tức chạm đến nơi sâu thẳm trong tâm hồn của Liễu Địch. Lòng cô chùng xuống. Cô nhẹ nhàng nắm tay thầy Chương.
Nhưng đột nhiên người thầy Chương run run, giống như lần đầu Liễu Địch chạm vào người thầy sau tiết học đầu tiên năm lớp 10. Thầy lập tức hất tay Liễu Địch ra. Cô há miệng vẻ kinh ngạc, nhưng không thể thốt thành lời. Cô nằm mơ cũng không ngờ thầy Chương lại có phản ứng như vậy.
Sau đó, thầy Chương nhanh chóng quay lưng về phía Liễu Địch, cất giọng khàn khàn và rõ ràng: "Liễu Địch, em về đi!"
Liễu Địch ngây ngốc. Giọt nước mắt chua xót và thất vọng trào ra nơi khóe mi, chảy xuống mặt. Nhưng cô cắn răng, không để phát ra tiếng nức nở. Qua làn nước mắt, Liễu Địch thấy thân hình cao lớn của thầy Chương bất động. Thầy lại khép chặt cánh cửa trái tim, trở thành tảng băng lạnh lùng. Tại sao thầy đột nhiên thay đổi? Chẳng phải cô đã thu hẹp khoảng cách với thầy, cô đã được thầy tin tưởng hay sao? Tại sao bây giờ thầy lại tỏ ra xa cách? Liễu Địch không tài nào hiểu nổi.
Sau đó, cô lại nghe thầy Chương nói, từng tiếng như rít qua kẽ răng: "Liễu Địch, em về đi!"
Giọng thầy vô cùng lạnh lùng, Liễu Địch cảm thấy cô không thể chịu đựng lâu hơn được nữa. Cô lắc đầu, quay người chạy ra ngoài. Vừa quay ra đến cửa, giọng nói của thầy Chương đột nhiên vang lên bên tai cô: "Chiều mai, tôi sẽ đến trường... tiễn em."
Liễu Địch ngẩn người nhưng vẫn sải bước dài rời khỏi ngôi nhà. Mặt trời đã xuống núi, không gian được bao phủ bởi ánh chiều tà. Khi Liễu Địch chạy tới sân nhỏ, cô chợt nghe thấy một tiếng động, dường như trong ngôi nhà của thầy Chương, có đồ vật gì đó rơi xuống đất.
Chương 13
Chiều ngày hôm sau, Liễu Địch đến văn phòng của thầy Chương.
Thầy Chương vẫn mặc bộ đồ ngày hôm qua, áo sơ mi màu mận và quần jeans màu xanh đậm. Thầy vẫn đeo cặp kính màu nâu trà đó. Không hiểu tại sao cách ăn mặc trẻ trung, đầy sức sống của thầy lại khiến căn phòng nhỏ vốn đơn giản, cứng nhắc bỗng trở nên rực rỡ.
Liễu Địch biết thầy Chương năm nay mới hai mươi tám tuổi. Chỉ là do cách ăn mặc, giọng nói và thái độ lạnh nhạt của thầy khiến người khác có cảm giác thầy đã trải qua trăm cuộc bể dâu. Từ hôm qua, Liễu Địch mới thật sự chú ý, thực ra thầy Chương còn rất trẻ.
Vừa bước vào văn phòng, Liễu Địch bắt gặp người thầy trẻ trung của cô đang tưới nước cho cây hoa nhài. Liễu Địch biết thầy Chương thích chậu hoa nhài này, nhưng thầy chưa bao giờ chăm sóc nó. Từ việc tưới nước, cắt tỉa, bón phân đều do Liễu Địch phụ trách.
Hôm nay, thầy Chương chủ động tưới nước cho cây. Thầy cầm một cái bình phun đơn giản, thái độ rất chuyên tâm. Nhưng nước vẫn phun ra ngoài một nửa. Liễu Địch không hề nghĩ ngợi, vội vàng đi đến, nói nhỏ: "Thầy Chương, để em làm cho!"
Thầy Chương lắc đầu. "Cứ để tôi làm. Từ giờ em không còn ở đây, dù sao tôi cũng phải học cách chăm sóc nó. Những ngày tháng sau này, chỉ có nó ở bên cạnh tôi."
Câu nói rất bình thản nhưng ẩn chứa thâm tình quyến luyến và cả sự bất lực. Liễu Địch cảm thấy vừa cảm động vừa chua xót. Tâm trạng tủi thân và không vui ngày hôm qua chỉ vì câu nói này mà hoàn toàn tan biến. Cô muốn nói điều gì đó nhưng cổ họng tắc nghẹn, không thể thốt thành lời.
Tưới nước cho cây xong, thầy Chương theo thói quen chỉ tay vào chiếc ghế đối diện, Liễu Địch liền ngồi xuống đó. Trên bàn có hai cốc trà nghi ngút khói. Không biết từ khi nào, thầy Chương bắt đầu có thói quen pha hai cốc trà. Liễu Địch cầm một cốc, mùi hương có vị đắng xộc vào mũi cô. Cô không uống trà mà quan sát một lượt căn phòng nhỏ mình đã gắn bó suốt ba năm qua. Bàn làm việc, ghế ngồi, bình giữ nhiệt, cốc trà, lọ mực đỏ, tập vở làm văn, chậu hoa nhài... Đều là những vật rất đỗi bình thường nhưng hôm nay chúng cũng nhuốm màu ly biệt. Bây giờ Liễu Địch mới hiểu vì sao những lúc rời xa quê hương, một cái cây, ngọn cỏ cũng gợi lên nỗi nhớ nhà. Mỗi đồ vật trong căn phòng này đều chứa đựng quá nhiều kỷ niệm, tích tụ quá nhiều tình ý.
Liễu Địch lại đưa mắt về phía thầy Chương. Mặc dù sắp chia tay nhưng thầy vẫn bình tĩnh và lạnh nhạt. Trên gương mặt thầy ẩn hiện nét trầm tư. Thầy ngồi yên lặng, lông mày hơi nhíu lại. Có mấy lần khóe miệng thầy động đậy, dường như thầy muốn nói chuyện nhưng cuối cùng lại không thốt ra lời.
Hai thầy trò ngồi im lặng trong văn phòng, trầm mặc cảm nhận nhịp đập của trái tim đối phương, lặng lẽ lắng nghe tiếng bước chân ly biệt đang chậm rãi tiến lại gần.
Đúng năm giờ, Liễu Địch dắt tay thầy Chương đi ra trạm xe buýt nhỏ.
Cây dương liễu vẫn rủ cành lá, đung đưa trong gió. Hoa đinh hương đã úa tàn từ lâu, chỉ còn lại những chiếc lá hình trái tim màu xanh lục. Biển báo đứng cô độc ở đó, đón hết chuyến xe này đến chuyến xe khác. Ánh mắt Liễu Địch dừng lại ở từng vật thể quen thuộc như muốn chào tạm biệt những người bạn cũ.
Ông mặt trời từ từ lặn xuống nhưng vẫn cháy rực giữa không trung. Liễu Địch chưa bao giờ nhìn thấy ánh tịch dương đỏ rực như vậy. Mặt trời như cố bùng cháy, cháy hết mình, tỏa ra chút ánh sáng huy hoàng cuối cùng, chiếu sáng thế giới mà nó yêu quý. Vầng mây trên cao được nhuộm màu vàng rực rỡ, xán lạn. Liễu Địch ngẩn ngơ ngắm nhìn cảnh mặt trời lặn, quên hết mọi chuyện xung quanh.
"Liễu Địch!" Thầy Chương đột ngột lên tiếng.
Liễu Địch giật mình, thần trí trở về hiện thực. "Chuyện gì vậy, thầy Chương?" Liễu Địch nhiệt tình hỏi thầy. Thực ra cả buổi chiều, cô chờ đợi thầy Chương nói với cô điều gì đó. Cô không muốn chia tay trong câm lặng.
"Liễu Địch!" Thầy Chương lại gọi tên cô, giọng thầy đứt quãng: "Em... em có thể cho tôi "ngắm" em được không?"
Liễu Địch ngây người. Thầy Chương muốn "ngắm" cô? Liễu Địch hiểu ý thầy ngay tức thì. Cô đột nhiên thấy hai má nóng bừng, tim đập thình thịch. Trước đề nghị bất ngờ của thầy Chương, cô thấy thẹn thùng và bối rối, không biết làm thế nào mới phải. Thầy Chương lặng lẽ đợi một lát. Sau đó, bờ môi đang mím chặt của thầy phát ra tiếng thở dài rất khẽ, rồi thầy từ từ quay người, xoay lưng về phía Liễu Địch.
Liễu Địch chợt rung động. Cô có thể nhận ra khao khát và yêu cầu của thầy qua giọng nói và tiếng thở dài mà thầy không muốn biểu lộ. Khao khát này rất mãnh liệt, yêu cầu này rất khó mở lời. Liễu Địch đột nhiên hiểu rõ, phải có dũng khí lớn đến mức nào thì thầy Chương mới đưa ra đề nghị này. Sao cô có thể cự tuyệt đề nghị của thầy được chứ? Nghĩ như vậy, Liễu Địch lặng lẽ đi đến trước mặt thầy Chương. Cô nhẹ nhàng nắm hai tay thầy, từ từ đặt lên đôi má đỏ bừng của mình.
Đôi tay thầy Chương run run. Sau đó, hai bàn tay thô ráp của thầy bắt đầu di chuyển từng chút một trên mặt Liễu Địch. Thầy vuốt mái tóc dài óng mượt của cô, vuốt ve bờ trán rộng, cặp lông mày thanh tú, đôi mắt trong như hồ nước mùa thu, sống mũi thẳng xinh xắn, bờ môi chúm chím, làn da nhẵn mịn, cái cằm thanh mảnh làm rung động lòng người... Thầy vuốt ve rất chậm, như muốn dùng cả trái tim để nắm bắt từng đặc điểm nhỏ bé nhất, cảm nhận từng đường nét thầy không nhìn thấy.
Liễu Địch đứng yên lặng, để mặc thầy khám phá gương mặt cô. Trong lòng cô dội lên sự cảm động khó diễn tả. Sau đó, cô cảm thấy đôi bàn tay thầy Chương trượt xuống dưới, đặt trên bờ vai mảnh khảnh của cô.
"Mọi người đều nói em là một cô bé xinh đẹp." Thầy Chương nói khẽ, giọng vô cùng dịu dàng.
Trong lòng Liễu Địch thoảng qua một cơn gió nhu tình. "Không!" Cô nói. "Bọn họ nói quá đấy thầy, em chỉ là một con vịt con xấu xí mà thôi."
Thầy Chương lắc đầu. "Em chắc chắn không phải là vịt con xấu xí, em là thiên nga trắng. Ít nhất trong lòng tôi, em mãi mãi là thiên nga trắng đẹp nhất."
"Thầy Chương!" Liễu Địch cảm động đến mức sống mũi cay cay, cổ họng tắc nghẹn. Viền mắt cô ươn ướt, gương mặt thầy nhòe đi.
Thầy Chương tiếp tục nói khẽ, giọng điệu bình thản của thầy ẩn chứa một tình cảm mãnh liệt không thể đè nén: "Tôi thật sự hy vọng... lúc này... đôi mắt tôi có thể bừng sáng, cho dù chỉ một phút. Một phút thôi cũng được, tôi nguyện dùng cả sinh mạng của mình để đánh đổi."
Đôi bàn tay thầy đặt trên vai Liễu Địch đột nhiên run rẩy. Thầy nắm chặt bờ vai Liễu Địch, hơi thở dồn dập, lồng ngực phập phồng. Sau đó, thầy bất ngờ kéo Liễu Địch vào lòng, đầu cô tựa vào vai thầy, hai cánh tay mạnh mẽ của thầy ôm chặt người cô.
Liễu Địch hoảng hốt, cô muốn giãy ra theo bản năng. Nhưng cô nghe tiếng trái tim tràn đầy sức sống đập thình thịch trong lồng ngực thầy Chương, nhịp đập đó như biểu lộ thứ tình cảm mãnh liệt và đẹp đẽ nhất. Liễu Địch ngẩng đầu nhìn thầy. Gương mặt của thầy vừa rồi vẫn còn xúc động, lúc này đã trở lại vẻ bình tĩnh thường lệ.
Liễu Địch không tài nào hiểu nổi, dưới vỏ bọc bình thản đó lại là một trái tim đập dữ dội như vậy. Cô thầm thở dài, ba năm qua, phần lớn thời gian thầy Chương đều là núi băng lạnh lùng, thầy đã che giấu rất kĩ trái tim nhiệt tình và nhạy cảm của mình. Nghĩ đến đây, Liễu Địch bất giác chủ động áp sát thân hình bé nhỏ vào lòng thầy Chương, đồng thời giơ hai tay ôm thắt lưng thầy.
Toàn thân thầy Chương run nhẹ. Hai thầy trò cứ như vậy, lặng lẽ dựa vào nhau, dùng cơ thể và tâm hồn để cảm nhận sự tồn tại của đối phương trong thời khắc cuối cùng trước khi chia tay.
Liễu Địch phát hiện nhịp đập của trái tim thầy Chương chậm lại. Cô từ từ chìm vào bầu không khí yên ả, đẹp đẽ này. Trong không khí đó, cô cảm thấy một thứ tình cảm tốt đẹp nhất, chân thành nhất, thuần khiết nhất vây quanh mình.
Xe buýt từ phía xa đi tới nhưng Liễu Địch không hề biết. Thầy Chương là người có phản ứng trước. "Liễu Địch, xe đến rồi." Nói xong, thầy liền buông hai tay. Liễu Địch giật mình, như bị kéo trở lại hiện thực. Cô đột nhiên cảm nhận một cách rõ ràng sự ly biệt.
Xe buýt chầm chậm tiến lại gần, cuối cùng dừng lại bên tấm biển báo. Liễu Địch đỡ cánh tay thầy Chương, bàn tay cô run rẩy, trái tim cô đau đớn, đến mức cô muốn khóc mà không khóc nổi. Thầy Chương vẫn giữ vẻ bĩnh tĩnh, gương mặt thầy thể hiện vẻ mãn nguyện và an ủi. Thầy chậm rãi bước lên xe, bình thản đi đến chỗ ngồi.
"Ding doong", cánh cửa sắt vô tình đóng chặt. Xe buýt bắt đầu chuyển bánh. Liễu Địch đứng bất động bên tấm biển báo, cô cũng không biết mình đang nghĩ gì. Sau đó, khi xe buýt vừa đi, thầy Chương đột nhiên ló đầu ra khỏi cửa sổ xe, vẫy tay với Liễu Địch.
Liễu Địch hoàn toàn sững sờ khi nhìn thấy nụ cười rạng rỡ trên gương mặt thầy. Thầy Chương nở nụ cười, lần đầu tiên thầy cười tươi. Nụ cười đó trong sáng như bầu trời mùa thu không một gợn mây, lại rạng rỡ như ánh nắng mùa xuân...
Liễu Địch ngây ngốc dõi theo chiếc xe buýt mỗi lúc một xa, cho đến khi gương mặt và nụ cười rạng rỡ của thầy Chương biến mất trong ánh chiều tà.
Chiều ngày hôm sau, Liễu Địch đến văn phòng của thầy Chương.
Thầy Chương vẫn mặc bộ đồ ngày hôm qua, áo sơ mi màu mận và quần jeans màu xanh đậm. Thầy vẫn đeo cặp kính màu nâu trà đó. Không hiểu tại sao cách ăn mặc trẻ trung, đầy sức sống của thầy lại khiến căn phòng nhỏ vốn đơn giản, cứng nhắc bỗng trở nên rực rỡ.
Liễu Địch biết thầy Chương năm nay mới hai mươi tám tuổi. Chỉ là do cách ăn mặc, giọng nói và thái độ lạnh nhạt của thầy khiến người khác có cảm giác thầy đã trải qua trăm cuộc bể dâu. Từ hôm qua, Liễu Địch mới thật sự chú ý, thực ra thầy Chương còn rất trẻ.
Vừa bước vào văn phòng, Liễu Địch bắt gặp người thầy trẻ trung của cô đang tưới nước cho cây hoa nhài. Liễu Địch biết thầy Chương thích chậu hoa nhài này, nhưng thầy chưa bao giờ chăm sóc nó. Từ việc tưới nước, cắt tỉa, bón phân đều do Liễu Địch phụ trách.
Hôm nay, thầy Chương chủ động tưới nước cho cây. Thầy cầm một cái bình phun đơn giản, thái độ rất chuyên tâm. Nhưng nước vẫn phun ra ngoài một nửa. Liễu Địch không hề nghĩ ngợi, vội vàng đi đến, nói nhỏ: "Thầy Chương, để em làm cho!"
Thầy Chương lắc đầu. "Cứ để tôi làm. Từ giờ em không còn ở đây, dù sao tôi cũng phải học cách chăm sóc nó. Những ngày tháng sau này, chỉ có nó ở bên cạnh tôi."
Câu nói rất bình thản nhưng ẩn chứa thâm tình quyến luyến và cả sự bất lực. Liễu Địch cảm thấy vừa cảm động vừa chua xót. Tâm trạng tủi thân và không vui ngày hôm qua chỉ vì câu nói này mà hoàn toàn tan biến. Cô muốn nói điều gì đó nhưng cổ họng tắc nghẹn, không thể thốt thành lời.
Tưới nước cho cây xong, thầy Chương theo thói quen chỉ tay vào chiếc ghế đối diện, Liễu Địch liền ngồi xuống đó. Trên bàn có hai cốc trà nghi ngút khói. Không biết từ khi nào, thầy Chương bắt đầu có thói quen pha hai cốc trà. Liễu Địch cầm một cốc, mùi hương có vị đắng xộc vào mũi cô. Cô không uống trà mà quan sát một lượt căn phòng nhỏ mình đã gắn bó suốt ba năm qua. Bàn làm việc, ghế ngồi, bình giữ nhiệt, cốc trà, lọ mực đỏ, tập vở làm văn, chậu hoa nhài... Đều là những vật rất đỗi bình thường nhưng hôm nay chúng cũng nhuốm màu ly biệt. Bây giờ Liễu Địch mới hiểu vì sao những lúc rời xa quê hương, một cái cây, ngọn cỏ cũng gợi lên nỗi nhớ nhà. Mỗi đồ vật trong căn phòng này đều chứa đựng quá nhiều kỷ niệm, tích tụ quá nhiều tình ý.
Liễu Địch lại đưa mắt về phía thầy Chương. Mặc dù sắp chia tay nhưng thầy vẫn bình tĩnh và lạnh nhạt. Trên gương mặt thầy ẩn hiện nét trầm tư. Thầy ngồi yên lặng, lông mày hơi nhíu lại. Có mấy lần khóe miệng thầy động đậy, dường như thầy muốn nói chuyện nhưng cuối cùng lại không thốt ra lời.
Hai thầy trò ngồi im lặng trong văn phòng, trầm mặc cảm nhận nhịp đập của trái tim đối phương, lặng lẽ lắng nghe tiếng bước chân ly biệt đang chậm rãi tiến lại gần.
Đúng năm giờ, Liễu Địch dắt tay thầy Chương đi ra trạm xe buýt nhỏ.
Cây dương liễu vẫn rủ cành lá, đung đưa trong gió. Hoa đinh hương đã úa tàn từ lâu, chỉ còn lại những chiếc lá hình trái tim màu xanh lục. Biển báo đứng cô độc ở đó, đón hết chuyến xe này đến chuyến xe khác. Ánh mắt Liễu Địch dừng lại ở từng vật thể quen thuộc như muốn chào tạm biệt những người bạn cũ.
Ông mặt trời từ từ lặn xuống nhưng vẫn cháy rực giữa không trung. Liễu Địch chưa bao giờ nhìn thấy ánh tịch dương đỏ rực như vậy. Mặt trời như cố bùng cháy, cháy hết mình, tỏa ra chút ánh sáng huy hoàng cuối cùng, chiếu sáng thế giới mà nó yêu quý. Vầng mây trên cao được nhuộm màu vàng rực rỡ, xán lạn. Liễu Địch ngẩn ngơ ngắm nhìn cảnh mặt trời lặn, quên hết mọi chuyện xung quanh.
"Liễu Địch!" Thầy Chương đột ngột lên tiếng.
Liễu Địch giật mình, thần trí trở về hiện thực. "Chuyện gì vậy, thầy Chương?" Liễu Địch nhiệt tình hỏi thầy. Thực ra cả buổi chiều, cô chờ đợi thầy Chương nói với cô điều gì đó. Cô không muốn chia tay trong câm lặng.
"Liễu Địch!" Thầy Chương lại gọi tên cô, giọng thầy đứt quãng: "Em... em có thể cho tôi "ngắm" em được không?"
Liễu Địch ngây người. Thầy Chương muốn "ngắm" cô? Liễu Địch hiểu ý thầy ngay tức thì. Cô đột nhiên thấy hai má nóng bừng, tim đập thình thịch. Trước đề nghị bất ngờ của thầy Chương, cô thấy thẹn thùng và bối rối, không biết làm thế nào mới phải. Thầy Chương lặng lẽ đợi một lát. Sau đó, bờ môi đang mím chặt của thầy phát ra tiếng thở dài rất khẽ, rồi thầy từ từ quay người, xoay lưng về phía Liễu Địch.
Liễu Địch chợt rung động. Cô có thể nhận ra khao khát và yêu cầu của thầy qua giọng nói và tiếng thở dài mà thầy không muốn biểu lộ. Khao khát này rất mãnh liệt, yêu cầu này rất khó mở lời. Liễu Địch đột nhiên hiểu rõ, phải có dũng khí lớn đến mức nào thì thầy Chương mới đưa ra đề nghị này. Sao cô có thể cự tuyệt đề nghị của thầy được chứ? Nghĩ như vậy, Liễu Địch lặng lẽ đi đến trước mặt thầy Chương. Cô nhẹ nhàng nắm hai tay thầy, từ từ đặt lên đôi má đỏ bừng của mình.
Đôi tay thầy Chương run run. Sau đó, hai bàn tay thô ráp của thầy bắt đầu di chuyển từng chút một trên mặt Liễu Địch. Thầy vuốt mái tóc dài óng mượt của cô, vuốt ve bờ trán rộng, cặp lông mày thanh tú, đôi mắt trong như hồ nước mùa thu, sống mũi thẳng xinh xắn, bờ môi chúm chím, làn da nhẵn mịn, cái cằm thanh mảnh làm rung động lòng người... Thầy vuốt ve rất chậm, như muốn dùng cả trái tim để nắm bắt từng đặc điểm nhỏ bé nhất, cảm nhận từng đường nét thầy không nhìn thấy.
Liễu Địch đứng yên lặng, để mặc thầy khám phá gương mặt cô. Trong lòng cô dội lên sự cảm động khó diễn tả. Sau đó, cô cảm thấy đôi bàn tay thầy Chương trượt xuống dưới, đặt trên bờ vai mảnh khảnh của cô.
"Mọi người đều nói em là một cô bé xinh đẹp." Thầy Chương nói khẽ, giọng vô cùng dịu dàng.
Trong lòng Liễu Địch thoảng qua một cơn gió nhu tình. "Không!" Cô nói. "Bọn họ nói quá đấy thầy, em chỉ là một con vịt con xấu xí mà thôi."
Thầy Chương lắc đầu. "Em chắc chắn không phải là vịt con xấu xí, em là thiên nga trắng. Ít nhất trong lòng tôi, em mãi mãi là thiên nga trắng đẹp nhất."
"Thầy Chương!" Liễu Địch cảm động đến mức sống mũi cay cay, cổ họng tắc nghẹn. Viền mắt cô ươn ướt, gương mặt thầy nhòe đi.
Thầy Chương tiếp tục nói khẽ, giọng điệu bình thản của thầy ẩn chứa một tình cảm mãnh liệt không thể đè nén: "Tôi thật sự hy vọng... lúc này... đôi mắt tôi có thể bừng sáng, cho dù chỉ một phút. Một phút thôi cũng được, tôi nguyện dùng cả sinh mạng của mình để đánh đổi."
Đôi bàn tay thầy đặt trên vai Liễu Địch đột nhiên run rẩy. Thầy nắm chặt bờ vai Liễu Địch, hơi thở dồn dập, lồng ngực phập phồng. Sau đó, thầy bất ngờ kéo Liễu Địch vào lòng, đầu cô tựa vào vai thầy, hai cánh tay mạnh mẽ của thầy ôm chặt người cô.
Liễu Địch hoảng hốt, cô muốn giãy ra theo bản năng. Nhưng cô nghe tiếng trái tim tràn đầy sức sống đập thình thịch trong lồng ngực thầy Chương, nhịp đập đó như biểu lộ thứ tình cảm mãnh liệt và đẹp đẽ nhất. Liễu Địch ngẩng đầu nhìn thầy. Gương mặt của thầy vừa rồi vẫn còn xúc động, lúc này đã trở lại vẻ bình tĩnh thường lệ.
Liễu Địch không tài nào hiểu nổi, dưới vỏ bọc bình thản đó lại là một trái tim đập dữ dội như vậy. Cô thầm thở dài, ba năm qua, phần lớn thời gian thầy Chương đều là núi băng lạnh lùng, thầy đã che giấu rất kĩ trái tim nhiệt tình và nhạy cảm của mình. Nghĩ đến đây, Liễu Địch bất giác chủ động áp sát thân hình bé nhỏ vào lòng thầy Chương, đồng thời giơ hai tay ôm thắt lưng thầy.
Toàn thân thầy Chương run nhẹ. Hai thầy trò cứ như vậy, lặng lẽ dựa vào nhau, dùng cơ thể và tâm hồn để cảm nhận sự tồn tại của đối phương trong thời khắc cuối cùng trước khi chia tay.
Liễu Địch phát hiện nhịp đập của trái tim thầy Chương chậm lại. Cô từ từ chìm vào bầu không khí yên ả, đẹp đẽ này. Trong không khí đó, cô cảm thấy một thứ tình cảm tốt đẹp nhất, chân thành nhất, thuần khiết nhất vây quanh mình.
Xe buýt từ phía xa đi tới nhưng Liễu Địch không hề biết. Thầy Chương là người có phản ứng trước. "Liễu Địch, xe đến rồi." Nói xong, thầy liền buông hai tay. Liễu Địch giật mình, như bị kéo trở lại hiện thực. Cô đột nhiên cảm nhận một cách rõ ràng sự ly biệt.
Xe buýt chầm chậm tiến lại gần, cuối cùng dừng lại bên tấm biển báo. Liễu Địch đỡ cánh tay thầy Chương, bàn tay cô run rẩy, trái tim cô đau đớn, đến mức cô muốn khóc mà không khóc nổi. Thầy Chương vẫn giữ vẻ bĩnh tĩnh, gương mặt thầy thể hiện vẻ mãn nguyện và an ủi. Thầy chậm rãi bước lên xe, bình thản đi đến chỗ ngồi.
"Ding doong", cánh cửa sắt vô tình đóng chặt. Xe buýt bắt đầu chuyển bánh. Liễu Địch đứng bất động bên tấm biển báo, cô cũng không biết mình đang nghĩ gì. Sau đó, khi xe buýt vừa đi, thầy Chương đột nhiên ló đầu ra khỏi cửa sổ xe, vẫy tay với Liễu Địch.
Liễu Địch hoàn toàn sững sờ khi nhìn thấy nụ cười rạng rỡ trên gương mặt thầy. Thầy Chương nở nụ cười, lần đầu tiên thầy cười tươi. Nụ cười đó trong sáng như bầu trời mùa thu không một gợn mây, lại rạng rỡ như ánh nắng mùa xuân...
Liễu Địch ngây ngốc dõi theo chiếc xe buýt mỗi lúc một xa, cho đến khi gương mặt và nụ cười rạng rỡ của thầy Chương biến mất trong ánh chiều tà.
Chương 14
Bước qua cánh cổng của trường Đại học Bắc Kinh, Liễu Địch phát hiện cô tiến vào một thế giới hoàn toàn mới mẻ.
Cô không biết Yến Viên[1] lại rộng như vậy, hồ Vị Danh sương khói mờ ảo, quanh bờ hồ cây cối xanh ngát, các khu giảng đường theo phong cách Trung - Tây kết hợp, khu nhà ở hết sức tao nhã, đẹp đẽ.
[1] Khuôn viên của Đại học Bắc Kinh, nằm ở phía tây thành phố Bắc Kinh.
Có lẽ người dân sống lâu đời ở Bắc Kinh cũng chưa chắc đã đi hết khu vực này, từ các dãy nhà cổ kính, trang nghiêm như cung đình đến khu biệt thự nằm bên vườn cây rợp bóng.
Liễu Địch không biết Yến Viên có nhiều nhân tài như vậy. Một ông già trông rất bình thường đi thong thả trong sân trường có thể là một nhân vật được kính trọng của giới học thuật. Bạn cùng phòng ký túc xá có thể là "trạng nguyên" của một tỉnh nào đó. Nơi này hội tụ anh tài của cả nước, nơi này có nền giáo dục tốt nhất cả nước. Ở đây, không ai dám tự xưng là "thiên tài", cũng chẳng có người nào dễ dàng chịu thua. Ai nấy đều cố gắng học tập, âm thầm đọ sức.
Liễu Địch không biết bầu không khí học thuật ở Yến Viên lại tự do và sôi nổi như vậy. Ở nơi này, các loại tư tưởng, các loại quan điểm, các loại bè phái, các loại phương pháp đều có đất dụng võ. Bạn có thể tự do phát huy tài năng, phát biểu quan điểm của mình, tự do lựa chọn phương pháp học tập thích hợp. Học giả Thái Nguyên Bồi từng đề xuất và xác lập phong cách "thu gom tất cả" của nhà trường, đến bây giờ vẫn được áp dụng. Sinh viên có thể không lên lớp nhưng rất ít người lười biếng, ai nấy đều nỗ lực, đầu óc không ngừng vận động. Trong trường, hầu như ngày nào cũng dán thông báo về các buổi báo cáo học thuật và tọa đàm. Buổi tối, ở thư viện, đèn đóm sáng trưng, cả tòa nhà như con thuyền lớn lướt qua ngọn sóng trên mặt biển tối đen, tiến về phía trước...
Liễu Địch kinh ngạc và vô cùng hưng phấn. Cuối cùng cô cũng có thể lý giải câu nói của thầy Chương, đây là thánh đường của tinh thần và tri thức nhân loại. Cô như một đứa trẻ lang thang, đột nhiên lạc vào thánh đường kỳ diệu này nên nhất thời lóa mắt và luống cuống. Tuy không thể lập tức lĩnh hội tinh túy của Bắc Đại nhưng Liễu Địch rất say mê. Bắc Đại là nguyện vọng lớn nhất của cô, ngôi nhà của cô.
Liễu Địch sốt sắng lao vào vòng tay của Bắc Đại, ra sức tiếp thu tri thức. Cô nhanh chóng tìm thấy cảm giác mà thầy Chương từng nhắc tới: như cá gặp nước.
Trong niềm hưng phấn và say mê tột độ, Liễu Địch không vội đi tìm Giáo sư Tô Văn. Nhưng ngày thứ ba sau khi nhập học, Giáo sư Tô Văn đã tự tìm đến cô. Thế là Liễu Địch đi theo Giáo sư về nhà ông, Trúc Ngâm Cư nằm trong khu Kính Xuân Viên của Bắc Đại.
Kính Xuân Viên nằm bên cạnh Lãng Nhuận Viên, hai khu vực này có hồ khá rộng, ở đây có nhiều cây cầu bằng đá nối liền nhau, tạo thành vẻ đẹp hoang sơ. Ở Kính Xuân Viên đều là những ngôi nhà thấp, nằm xen lẫn giữa những lùm cây xanh, giống như phong cảnh thị trấn nhỏ thơ mộng ở Giang Nam.
Bên trong Kính Xuân Viên còn có hồ sen. Nhìn những đóa sen màu hồng nổi bật bên những phiến lá xanh, Liễu Địch bất chợt nhớ đến tản văn Ánh trăng bên hồ sen của Chu Tự Thanh. Không biết ánh trăng bên hồ sen này có đẹp như trong tản văn đó? Nhà của Giáo sư Tô Văn tọa lạc ở một rừng trúc nhỏ đằng sau hồ sen.
Vừa đi vào rừng trúc, Liễu Địch liền cảm thấy ánh sáng tối dần. Trên lối đi trải đầy những hòn đá dăm. Dưới tán trúc dày đặc, đến hòn đá cũng như nhuộm một màu xanh trong suốt. Gió thổi vào lá trúc, phát tiếng kêu xào xạc. Nơi tận cùng thấp thoáng mấy ngôi nhà có ngói xám, tường trắng. Trên bức tường trắng có một cánh cửa gỗ nhỏ, màu đỏ thẫm. Bên trên cánh cửa viết ba chữ ngay ngắn: "Trúc Ngâm Cư". Hai bên dán câu đối: "Nhàn xứ huề thư hoa hạ tọa, Hưng lai đắc câu trúc gian ngâm[2]", bên dưới ghi "Hải Thiên kính đề". Liễu Địch bất giác thầm cảm thán: "Câu đối hay quá! Chữ đẹp quá! Tên người rất hay!".
[2] Có nghĩa: Nhàn rỗi cầm sách ngồi dưới hoa, Hứng thú đến được câu trúc gian ngâm.
Đi qua cổng, Liễu Địch phát hiện bên trong là cái sân tương đối rộng. Trong sân có một đình nhỏ, mái vàng, cột đỏ. Trên cây cột cũng treo một câu đối được viết trên giấy đen, chữ vàng: "Số can tu trúc thất gian ốc, Nhất tịch thanh phong vạn hách vân[3]". Liễu Địch lại cảm thán: "Rất có khí phách!" Cô nhìn kĩ, bên dưới câu đối vẫn ghi "Hải Thiên kính đề".
[3] Có nghĩa: Trong khu rừng trúc có bảy gian nhà, Trên trời gió mát vạn rãnh mây.
Trong sân nhỏ đúng là có bảy gian nhà mái bằng, phía đông và tây có hai gian nối liền nhau, ba gian phòng chính còn lại là phòng khách, phòng uống trà và thư phòng. Bảy gian nhà được nối với nhau bằng hành lang dài. Trước mỗi cửa phòng đều trồng hai cây hải đường tứ phủ rất lớn.
Một điều khiến Liễu Địch ngạc nhiên là ngoài nhà bếp, sáu gian phòng còn lại đều được đặt những cái tên tao nhã và treo câu đối tương ứng. Phòng chính giữa gọi là "Nhã Tập Đường", câu đối là: "Khuynh hồ đãi khách hoa khang hậu, Xuất trúc ngâm thi nguyệt thượng thời."[4] Có hoa có trúc, rất phù hợp với đặc điểm của phòng khách và thú vui của chủ nhan. Phòng bên cạnh có tên "Trà Tiên Cốc Vũ", câu đối gồm tám chữ: "Tùng phong chử minh, Trúc vũ đàm thi"[5]. Thư phòng gọi là "Kim Thạch Ốc", câu đối càng thoát tục: "Gia hữu tàng mặc trang hương viễn, Môn vô tục khách trúc kính phong thanh"[6]. Phòng ngủ của vợ chồng Giáo sư Tô Văn có tên đặc biệt "Thê Thê Lư", câu đối là: "Điểu minh thiên hộ trúc, Thư chẩm nhất sàng phong."[7] Cũng không biết chim chóc hay con người nghỉ ngơi, hoặc là cả "song túc song thê[8]".
[4] Có nghĩa: Rót trà đãi khách chờ hoa nở, Xuất trúc ngâm thơ đón trăng lên.
[5] Có nghĩa: Rừng tùng gió nổi nấu trà uống; Rừng trúc mưa tuôn, mạn đàm thơ.
[6] Có nghĩa: Nhà trữ sách quý, hương mực thơm đưa tận nơi xa; Cửa không khách tục, đường trúc nghe vắng tiếng gió trong.
[7] Có nghĩa: Chim keu dìu dặt trúc lả lơi; Sáng thời gối tựa, gió thành chăn.
[8] Có nghĩa: cả hai cùng nghỉ ngơi.
Liễu Địch vừa đọc vừa thưởng thức, cô không khỏi thán phục tài năng của chủ nhân nơi đây. Cô chú ý, người viết các câu đối đều là "Hải Thiên". Hải Thiên là ai? Liễu Địch thầm nghĩ, người có tên Hải Thiên nhất định là người tài hoa và có học thức. Nhưng người đó có mối quan hệ như thế nào với Giáo sư Tô?
Sau đó, Giáo sư Tô đưa Liễu Địch tới gian phòng ở phía Tây. Phòng ngủ ở đó có tên "Sảng Ấp Trai", phòng bên cạnh có tên khiến Liễu Địch giật mình: "Hải Thiên Thư Ốc".
Liễu Địch không nén nổi tò mò, quay người hỏi Giáo sư Tô Văn: "Giáo sư, Hải Thiên là ai vậy ạ? Nhất định có quan hệ thân thiết với Giáo sư, đúng không ạ?"
"Tất nhiên!" Vợ Giáo sư Tô ở bên cạnh nở nụ cười hiền từ. "Đó là con trai của chúng ta."
"Dạ? Hóa ra con trai của Giáo sư." Liễu Địch bỗng hiểu ra vấn đề. Chả trách Hải Thiên tài hoa xuất chúng như vậy. Chỉ qua những câu đối và chữ viết, Liễu Địch có thể đoán đó là người am hiểm văn học cổ điển, có tâm hồn cao quý, thì ra được di truyền từ Giáo sư Tô Văn. Liễu Địch sinh lòng ngưỡng mộ Hải Thiên, cô rất muốn gặp chàng trai "Hải Thiên" đó.
"Anh ấy đang ở đâu ạ? Có ở Bắc Kinh không ạ?" Liễu Địch thăm dò.
"Không, con trai ta không ở Bắc Kinh, nó làm việc ở tỉnh khác." Giáo sư Tô Văn trầm ngâm. "Hai gian phòng này vốn là của Hải Thiên. Bây giờ nó không ở đây, hai gian phòng để trống mấy năm rồi." Giọng ông có vẻ buồn bã, ánh mắt dừng lại ở tấm biển đề "Hải Thiên Thư Ốc", chắc ông đang nhớ người con trai ở phương xa.
Sau đó, Giáo sư Tô đột nhiên quay sang Liễu Địch, cất giọng nhiệt tình và chân thành: "Liễu Địch, con dọn đến đây sống đi. Dù sao hai gian phòng này cũng bỏ trống, chi bằng con đến ở với chúng ta. Chúng ta sẽ chăm sóc con."
Liễu Địch ngẩn người, cô không ngờ Giáo sư Tô lại đưa ra đề nghị này. Cô mới chỉ gặp Giáo sư Tô hai lần, làm sao có thể nhận sự quan tâm đầy yêu thương của ông?
Liễu Địch vội từ chối: "Không cần đâu ạ, không cần làm phiền vợ chồng Giáo sư đâu ạ..."
"Phiền gì chứ?" Vợ Giáo sư Tô tiếp lời. Bà có khí chất cao quý nhưng rất hiền từ và nhiệt tình. Nụ cười của bà thật rạng rỡ, khóe mắt cũng như cười. "Liễu Địch, ta và con tuy lần đầu tiên gặp mặt, nhưng ta không coi con là người ngoài. Lần trước, thầy Tô về đến nhà liền kể với ta, ông ấy vừa nhìn thấy con đã thích ngay. Âu cũng là duyên phận. Con thử nghĩ xem, cả nước có bao nhiêu người thi vào Bắc Đại, vậy mà mỗi bài thi của con xảy ra vấn đề, người đi điều tra lại chính là Giáo sư Tô, lúc điều tra còn tình cờ gặp..." Bà im lặng một, hai giây rồi nói tiếp: "Trùng hợp như vậy, chứng tỏ con và chúng ta rất có duyên, đúng không? Ngôi nhà này lớn như vậy, Hải Thiên không biết bao giờ mới quay về. Mấy năm nay chỉ có hai ông bà già này trông nom bảy gian nhà, lạnh lẽo và cô độc biết bao..." Giọng của vợ Giáo sư Tô bỗng trở nên thê lương và nặng nề. "Chúng ta rất hy vọng có ai đó sống cùng, để chúng ta có thể cảm nhận được bầu không khí gia đình thật sự."
"Đúng đấy, Liễu Địch." Giáo sư Tô Văn nhìn Liễu Địch bằng ánh mắt tràn đầy yêu thương. Giọng nói của ông trịnh trọng, chân thành và chua xót. "Nếu con không không chê, con hãy coi nơi này là ngôi nhà ở Bắc Kinh của con, con hãy coi chúng ta là bố mẹ ở Bắc Kinh của con."
Liễu Địch cảm động nhìn hai người tóc đã bạc trắng. Ánh mắt buồn bã và sự nhiệt tình của họ khiến cô không thể tiếp tục từ chối.
Thế là Liễu Địch trở thành "khách quen" của Trúc Ngâm Cư. Nói thật, tuy Liễu Địch rất yêu Bắc Đại nhưng môi trường vệ sinh vừa bẩn vừa náo loạn ở ký túc xá khiến cô phát sợ. Vì vậy, cứ cách hai, ba ngày cô lại chạy đến Trúc Ngâm Cư. Hai ngày nghỉ cuối tuần, cô ở đó cả ngày. Cuối cùng, Giáo sư Tô cũng có thể thuyết phục Liễu Địch dọn đến Sảng Ấp Trai. Ông nói: "Cả hai gian phòng ở phía tây đều thuộc về con, con có thể sử dụng đồ đạc và sách vở tùy ý, Hải Thiên sẽ không tức giận đâu. Chỗ nó ở bây giờ cũng có rất nhiều sách." Vì vậy, hai gian phòng ở phía tây trở thành thế giới của Liễu Địch.
Khi mới dọn vào Sảng Ấp Trai, Liễu Địch có cảm giác nơi đó thật xa xỉ. Không phải vì gian phòng này xa hoa, lộng lẫy, ngược lại, Sảng Ấp Trai rất đơn giản. Tường quét vôi màu trắng, nền nhà lát xi măng sạch sẽ, cửa sổ lớn khiến căn phòng tràn ngập ánh sáng. Bên ngoài cửa sổ là những cây trúc. Buổi trưa, ánh nắng chiếu qua lá trúc lấp lánh. Bên cửa sổ là một chiếc bàn học, trên bàn là một ngọn đèn làm bằng thân cây trúc. Một chiếc giường gỗ kê sát vào tường, vỏ chăn màu xanh lục nhàn nhạt có hình bốn con thiên nga được thêu tay, sải cánh dài trên tầng mây. Trên tường treo một bức tranh vẽ cây trúc đen rất sống động. Bức tranh không có tiêu đề, cũng không đề tên người vẽ, nhưng xem ra là tác phẩm của chủ nhân gian phòng này.
Đúng vậy, nơi này rất mộc mạc, giản dị nhưng lại toát ra vẻ cao nhã, khiến con người có cảm giác hòa nhập vào thiên nhiên. Liễu Địch rất thích màu xanh lá cây mát mắt của gian phòng. Buổi tối nằm trên giường, nghe giai điệu của lá trúc, ngắm nhìn hình bóng của cây trúc và cây hải đường giao nhau trên tấm rèm cửa màu xanh nhạt, Liễu Địch mới hiểu hết hàm nghĩa của hai từ Sảng Ấp[9]. Những lúc như vậy, cô bất giác thầm cảm thán: "Người viết ra những câu đối tuyệt tác như Hải Thiên, không biết là bậc kỳ tài như thế nào?"
[9] Có nghĩa là mát mẻ.
Sau khi khám phá Hải Thiên Thư Ốc, sự ngưỡng mộ của Liễu Địch về "kỳ tài" Hải Thiên càng lớn.
Hải Thiên Thư Ốc là một phòng sách nhỏ. Bên trong gian phòng, ngoài một cái bàn và một cái ghế, bốn phía đều là giá sách. Liễu Địch phát hiện, sở thích đọc sách của Hải Thiên rất khác thầy Chương. Ở đây đa phần là sách tôn giáo, chính trị, địa lý... Những loại sách này gần như vắng bóng trên giá sách của thầy Chương.
Nơi này không có một cuốn sách văn học nào, dù là văn học cổ điển, văn học hiện đại, văn học nước ngoài hay những tác phẩm của tác giả vô danh. Không giống giá sách ở nhà thầy Chương, đều là những tác phẩm kinh điển.
Nhưng cũng chẳng có gì lạ lùng, Giáo sư Tô chuyên nghiên cứu văn học cổ điển, Kim Thạch Ốc của ông có rất nhiều sách văn học cổ điển nên con trai ông cần gì phải sưu tầm mấy thứ đó. Liễu Địch mở ra xem, cô phát hiện trong mỗi cuốn sách đều gạch chân những câu cần lưu ý hay viết lời nhận xét. Liễu Địch thấy nét chữ quen quen, nghĩ kĩ mới nhận ra giống chữ viết trên các câu đối ở Trúc Ngâm Cư, đều là bút tích của Hải Thiên. Liễu Địch không thể tưởng tượng, một người còn trẻ tuổi, sao có thể đọc nhiều sách đến vậy?
Liễu Địch tình cờ phát hiện ở một góc giá sách có quyển có tên Hải Thiên kỳ ngữ. Đó là một cuốn sách không dày, không mỏng. Liễu Địch xem ngày tháng, cuốn sách xuất bản từ bảy năm trước. Cô mở trang đầu tiên, đập vào mắt cô là tấm hình một chàng trai trẻ. Chàng trai có mái tóc đen, vầng trán rộng, sống mũi cao. Điểm thu hút nhất là đôi mắt đen láy, sáng ngời, tràn đầy sức sống, thể hiện sự uyên thâm và nhiệt huyết của tuổi trẻ. Đây là một gương mặt sáng sủa và nam tính. Liễu Địch bị người trong ảnh hoàn toàn thu hút ngay lập thức.
Sau đó, cô nhìn thấy dòng chữ giới thiệu tác giả bên cạnh tấm ảnh: Hải Thiên, nam, 21 tuổi, nguyên quán Giang Tô, hiện học khoa Trung văn, Đại học Bắc Kinh. Từ nhỏ yêu thích văn học, từng có vô số bài viết trên các báo và tạp chí. Là người có cách nhìn độc đáo, khả năng quan sát tinh tế, văn phong sắc bén, tình cảm chân thực. Được coi là tác giả trẻ có triển vọng nhất trên văn đàn.
Liễu Địch không khỏi kinh ngạc. Đây là sách xuất bản từ thời Hải Thiên học đại học, người này không biết là "thiên tài" như thế nào? Liễu Địch đem cuốn Hải Thiên kỳ ngữ về Sảng Ấp Trai. Không hiểu tại sao tim cô đập thình thịch như thể cô đang đọc trộm nhật ký của người khác.
Buổi tối hôm đó, cô đọc một lèo hết quyển sách này. Đây là một tuyển tập những bài viết. Liễu Địch bất giác bị quan điểm độc đáo, khả năng quan sát tinh tế và sắc bén, cũng như ngôn từ của cuốn sách này thu hút.
Ví dụ trong bài "Văn học và phê bình văn học", Hải Thiên viết:
"Làm một nhà phê bình văn học rất khó. Đầu tiên, anh ta phải có khả năng thưởng thức văn học, tiếp theo là phải có quan điểm khách quan và không thành kiến. Yếu tố thứ nhất còn dễ, yếu tố thứ hai thật không đơn giản chút nào.
Một nhà phê bình văn học mang nặng thành kiến thì làm sao có thể giúp độc giả? Hơn nữa, ở thời đại hỗn loạn này, rất nhiều người mượn phê bình văn học để mắng chửi người khác, khiến độc giả không thể lựa chọn. Độc giả không biết lựa chọn tác giả, tác giả cũng không biết lựa chọn phương hướng sáng tác. Như vậy, phê bình văn học hoàn toàn đánh mất giá trị.
Trên thực tế, độc giả thường lựa chọn tác giả và tác phẩm mình thích. Họ tiếp thu được bao nhiêu là vấn đề của họ, không cần người khác giúp đỡ, càng không cần sự giúp đỡ của các nhà phê bình văn học. Theo tôi thấy, thứ duy nhất có thể đánh giá giá trị của một tác phẩm không phải là độc giả, cũng không phải các nhà phê bình, mà là thời gian. Một tác phẩm vượt qua sự khảo nghiệm của thời gian chính là một tác phẩm hay. Nếu tác phẩm tồi tệ, chẳng cần người khác phê bình, công kích, nó sẽ tự động bị thời gian đào thải. Một nhà văn không cần quan tâm đến sự phê bình và công kích của người khác, chỉ cần trung thực với bản thân, có trách nhiệm với tác phẩm của mình là được."
Một bài viết sắc bén, có lý đến từng câu chữ. Liễu Địch chưa từng đọc một bài phê bình nào chân thực và sâu sắc đến thế.
Trong bài "Bàn về xu hướng của "dòng ý thức[10]", anh nhận xét về cái gọi là "dòng ý thức" văn học của thời đại bây giờ như sau:
[10] Dòng ý thức là một thuật ngữ văn học chỉ một xu hướng sáng tạo văn học (chủ yếu là văn xuôi) khởi điểm từ đầu thế kỷ 20, tái hiện trực tiếp đời sống nội tâm, xúc cảm và liên tưởng ở con người. Thuật ngữ "dòng ý thức" – Stream of consciousness được nhà tâm lý học người Mỹ William James đưa ra trong cuốn The Principles of Psychology (Cơ sở tâm lý học) xuất bản năm 1890, khi cho rằng ý thức là một dòng chảy, một dòng sông mà ở đó những tư tưởng, cảm xúc, liên tưởng bất chợt luôn lấn át nhau và đan bện một cách kỳ quặc, "phi logic".
"Bây giờ, cái gọi là "dòng ý thức" rất thời thượng. Tôi thêm từ "cái gọi là" bởi vì thứ mà phần lớn con người vận dụng không phải "dòng ý thức" thật sự, bọn họ chỉ là không ngừng tổ hợp câu chữ, khiến nó trở nên khó hiểu một chút, kỳ quặc một chút, lặp đi lặp lại mấy lần là được. Độc giả đọc không hiểu nên sẽ cảm thấy thâm sâu khó dò. Nhà phê bình không thể kết luận nó không hay ở điểm nào. Nếu đã không tệ thì tức là hay. Thật ra tôi cho rằng những thứ này chỉ biểu đạt một nội dung, đó là mất phương hướng. Bây giờ xã hội tồn tại vô số thanh niên rất đau đầu, phiền muộn về vấn đề lối ra, vấn đề hôn nhân và công việc… Rất nhiều người hoang mang vùng vẫy, họ đều bị mất phương hướng. Thế hệ này trở thành thế hệ mất phương hướng. Có một số thanh niên bị mất phương hướng thật sự, cũng có một số chỉ vì lạc lối mà buông thả bản thân. Tác phẩm văn học cũng vội vàng thể hiện xu thế mất phương hướng này, cuối cùng hoàn toàn mất phương hướng. Vì vậy tôi cảm thấy so với cái tên mỹ miều "dòng ý thức", thà gọi loại văn học này là "văn học mất phương hướng" còn thỏa đáng hơn."Liễu Địch bất giác đập bàn khen hay. Cô rất hả dạ. Cô ghét nhất những tác phẩm văn học khiến người khác đọc mà chẳng biết đâu mà lần. Lời nhận xét này đi thẳng vào tâm khảm của cô. Tuy nhiên, điều khiến Liễu Địch kinh ngạc hơn không phải là quan điểm độc đáo của Hải Thiên về văn học, mà là khả năng nhìn thấu nhân sinh của anh. Trong bài "Danh dự và cái chết", anh viết:
"Danh dự là gì? Nói trắng ra, danh dự chính là cách nhìn của người khác về bạn. Bạn có danh dự hay không, không phải vấn đề bản thân bạn có trong sạch hay không, mà là vấn đề người khác có thừa nhận bạn hay không. Vì vậy, từ xưa đến nay, rất nhiều người dùng cái chết để chứng minh sự trong sạch và bảo vệ danh dự của bản thân. Cách làm này tuy tiêu cực nhưng cũng rất hữu hiệu. Bởi trong hiện thực cuộc sống, con người không dễ thông cảm cho người sống, mà dễ thông cảm cho người chết. Con người thường nhớ tới khuyết điểm của người sống. Một khi người đó chết đi, con người sẽ dễ nhớ đến ưu điểm của họ. Vì vậy, dùng cái chết để chứng minh sự trong sạch, tuy phải bỏ cả mạng sống nhưng phần lớn có thể đạt được mục đích. Chỉ là, khi mỗi sinh mệnh sống tìm cách bảo vệ danh dự, càng nghiệm chứng một cách sâu sắc sự tàn khốc của xã hội."
Liễu Địch đọc đi đọc lại bài viết này. Cô cảm thấy bài viết quá sắc bén và nặng nề, đề cập đến tầng sâu vấn đề mà cô không thể chạm tới. Vậy mà Hải Thiên đã nhìn thấu xã hội và nhân sinh năm hai mươi mốt tuổi, chứng tỏ anh có khả năng quan sát tinh tế và tư tưởng sâu sắc đến mức nào?
Tuy nhiên, Liễu Địch luôn cảm thấy hình như cô đã được lĩnh giáo phong cách "đánh một phát trúng chỗ hiểm" này ở đâu đó. Nhưng cảm giác này như cái bóng vụt qua trong đầu, cô không thể nắm bắt, cũng không thể nhìn thấy. Tóm lại, khoảng thời gian này, Liễu Địch từ kinh ngạc đến cảm thán, từ cảm thán đến tán thưởng chàng trai chưa hề gặp mặt Hải Thiên. Sau khi đọc xong quyển Hải Thiên kỳ ngữ, cô phục sát đất, thậm chí sùng bái Hải Thiên.
Đêm hôm đó, cái tên Hải Thiên khắc sâu vào trí óc Liễu Địch. Gương mặt chàng trai trẻ tuổi tràn đầy sức sống trên tấm ảnh lần đầu tiên xuất hiện trong giấc mơ của cô.
Vợ chồng Giáo sư Tô Văn chăm sóc Liễu Địch rất chu đáo. Ở Giáo sư Tô, Liễu Địch cảm nhận được tình yêu vô bờ bến của một người cha. Đặc biệt, Giáo sư Tô cũng nghiên cứu văn học cổ điển, điều này khiến Liễu Địch càng thấy ông giống bố cô. Nhưng trong lĩnh vực văn học cổ điển, trình độ của Giáo sư Tô tất nhiên hơn bố cô nhiều lần.
Vợ Giáo sư Tô cũng thể hiện tình cảm của một người mẹ. Mỗi lần Liễu Địch đến Trúc Ngâm Cư, bà đều chuẩn bị các món mà cô thích khiến cô không khỏi ngại ngùng. Khi cô nói không cần phiền hà, bà chỉ mỉm cười hiền từ, nói: "Có gì đâu! Trước đây, Hải Thiên nhà chúng ta lúc nào cũng chén sạch sẽ. Nó thường nói với ta: "Mẹ à, nếu con béo phì, mẹ phải chịu trách nhiệm đấy nhé!" Lúc đó, người nó rắn chắc, khỏe mạnh lắm. Mấy năm nay nó sống ở bên ngoài..." Bà lắc đầu, thở dài: "Không biết thành bộ dạng gì rồi."
Tiếng thở dài của bà khiến Liễu Địch xót xa trong lòng. Tại sao Hải Thiên không thường xuyên về nhà? Có lẽ anh quá bận. Liễu Địch biết vợ chồng Giáo sư Tô rất nhớ con trai. Giáo sư Tô ít khi nhắc đến Hải Thiên nhưng ánh mắt ông vẫn vô tình bộc lộ sự nhớ nhung. Còn vợ Giáo sư Tô thường kể chuyện Hải Thiên với Liễu Địch. Một lần, bà lấy tập album ảnh Hải Thiên từ bảy, tám năm trước cho Liễu Địch xem. Không hiểu tại sao Liễu Địch bỗng có cảm giác Hải Thiên trông rất quen, cô đã từng gặp ở đâu đó rồi nhưng không nhớ rõ. Có lẽ Hải Thiên phù hợp với hình tượng "nam tử hán" trong lòng cô. "Nam tử hán" trong lòng? Hai má Liễu Địch nóng ran.
Sau đó, Liễu Địch giở đến tấm ảnh Hải Thiên chơi bóng rổ. Động tác chơi bóng rổ của anh rất tự nhiên và đẹp mắt. Liễu Địch ngẩng đầu, gương mặt cô lộ vẻ ngạc nhiên. "Anh Hải Thiên cũng biết chơi bóng rổ ạ?"
"Nó là đội trưởng đội bóng rổ khoa Trung văn." Bà Tô cất giọng tự hào. "Lúc đó, đội bóng của khoa Trung văn là đội duy nhất chơi ngang ngửa đội bóng rổ của trường. Hải Thiên chơi bóng rổ rất xuất sắc. Con không biết đâu, mỗi lần nó chơi bóng rổ, các sinh viên nữ đi cổ vũ rất đông."
"Trong đó chắc chắn có bạn gái của anh ấy, phải không ạ?" Liễu Địch hỏi nhỏ, gương mặt cô ửng hồng.
"Bạn gái ư? Không có." Bà Tô lắc đầu. "Hải Thiên khó tính lắm. Không giấu gì con, bốn năm học đại học, không biết có bao cô gái theo đuổi nó nhưng nó chẳng để mắt tới một ai. Yêu cầu về bạn gái của nó quá cao. Hải Thiên không quan tâm đến vẻ đẹp bề ngoài, nó thích người có khí chất, như nó từng nói: "tâm hồn hòa làm một". Haizz..." Bà lại thở dài. "Không phải ta khen con trai mình, cảnh giới tinh thần của nó quá cao, người bình thường không thể nào với tới."
Liễu Địch gật đầu đồng tình. Giáo sư Tô ngồi bên cạnh đột nhiên lên tiếng: "Hải Thiên là người rất nghiêm túc trong chuyện tình cảm, vì thế nó không dễ dàng mở cánh cửa trái tim. Một lần, một người bạn của nó, cậu lưu học sinh người Pháp, thất tình đòi tự sát. Hải Thiên đã lôi cậu ấy đến Sảng Ấp Trai, ở bên cậu ấy suốt ba ngày ba đêm. Ta nghe nó hét với cậu bạn: "Cậu không thể chết, trừ khi tình yêu của cậu đáng đổi bằng sinh mệnh. Nếu chết, cậu cũng nên chết cho người xứng đáng giành được tình yêu của cậu." Câu nói này đã thức tỉnh cậu du học sinh, cũng khiến ta rất cảm động. Con biết không? Nếu yêu một người con gái, Hải Thiên nhà ta sẽ yêu cô ấy bằng cả sinh mạng của mình. Thậm chí, nó có thể chết vì cô gái đó."
Liễu Địch thở dài. Người con gái khiến Hải Thiên có thể hy sinh cả mạng sống chắc phải siêu phàm, thoát tục, có lẽ không phải cô gái ở chốn nhân gian mà là tiên nữ.
Bà Tô cũng cảm thán: "Ta nghĩ cả cuộc đời này, chắc Hải Thiên sẽ không tìm được một người con gái như vậy."
"Cũng chẳng biết được." Giáo sư Tô liếc Liễu Địch bằng ánh mắt mang hàm ý sâu xa. "Nó xa nhà lâu như vậy, có lẽ đã tìm được người con gái vừa ý rồi cũng không biết chừng."
Liễu Địch chú ý đến ánh mắt của Giáo sư Tô, trong lòng cô hơi hoảng loạn. Cô biết, từ lúc đọc cuốn Hải Thiên kỳ ngữ, mỗi khi nghe nhắc đến hai từ "Hải Thiên", trong trái tim cô lại dấy lên một cảm xúc mà cô không thể nắm bắt, cũng không dám đối diện, đồng thời không thể phủ nhận sự tồn tại của nó. Lẽ nào Giáo sư Tô đã phát hiện ra tâm tình của cô? Liễu Địch quan sát Giáo sư Tô, trong mắt ông không hề có sự hoài nghi hay chế giễu.
Để che giấu nỗi hoảng loạn, Liễu Địch mỉm cười, nói: "Đến Tết kiểu gì anh Hải Thiên chẳng về nhà. Nếu có bạn gái, nhất định anh ấy sẽ dẫn về gặp vợ chồng Giáo sư mà."
Lần đầu tiên gọi "anh Hải Thiên[11]", Liễu Địch bỗng thấy có phần ngượng ngùng. Vợ chồng Giáo sư Tô đột nhiên trầm mặc. Một lúc sau, Giáo sư Tô lên tiếng: "Đúng vậy, Hải Thiên nên về nhà rồi. Bất luận thế nào, Tết này ta cũng phải nghĩ cách kêu nó về nhà."
[11] Nguyên văn là: Hải Thiên ca, cách gọi thân thiết.
Trời ạ, một chuyến về thăm nhà cũng bắt bố "nghĩ cách", Hải Thiên chắc là người làm việc điên cuồng. Tuy nhiên, Hải Thiên sắp về nhà. Tết này cô sẽ được gặp Hải Thiên. Liễu Địch rất mong được gặp nhân vật lẫy lừng mà cô mong đợi. Thậm chí cô nghĩ, để được gặp Hải Thiên, cô có thể không về quê ăn Tết.
Buổi tối hôm đó, Liễu Địch về Sảng Ấp Trai từ sớm. Lúc nằm trên giường, cô mơ hồ nghe thấy bà Tô nói: "Cô bé Liễu Địch với Hải Thiên của chúng ta đúng là một cặp trời sinh."
Sau đó, Liễu Địch nghe tiếng Giáo sư Tô thở dài. "Chỉ đáng tiếc..."
"Sao thế?" Bà Tô hỏi. "Đến một cô bé xuất sắc như vậy mà Hải Thiên cũng sẽ không ưng sao?"
"Chỉ e.." Giọng của Giáo sư Tô trở nên nặng nề: "Chỉ e Liễu Địch không ưng thằng bé."
Mình không ưng Hải Thiên? Liệu có chuyện đó sao? Liễu Địch nghĩ thầm, đột nhiên rất thẹn thùng. Dù sao Hải Thiên cũng sắp trở về. Cuối cùng cô cũng được gặp Hải Thiên.
Cứ như vậy, hình bóng của Hải Thiên tràn ngập trong tâm trí Liễu Địch. Cuộc sống đại học vô cùng bận rộn, rất phong phú, tràn đầy lý tưởng và ước mơ. Liễu Địch say mê tiếp thu tri thức, khám phá, mơ ước, khát khao, phấn đấu. Thế là cái tên Chương Ngọc dần nhạt nhòa trong đầu óc và cuộc sống của cô, trở thành một hình bóng mơ hồ chôn sâu trong ký ức. Cô nhất thời quên mất thầy Chương.
Bước qua cánh cổng của trường Đại học Bắc Kinh, Liễu Địch phát hiện cô tiến vào một thế giới hoàn toàn mới mẻ.
Cô không biết Yến Viên[1] lại rộng như vậy, hồ Vị Danh sương khói mờ ảo, quanh bờ hồ cây cối xanh ngát, các khu giảng đường theo phong cách Trung - Tây kết hợp, khu nhà ở hết sức tao nhã, đẹp đẽ.
[1] Khuôn viên của Đại học Bắc Kinh, nằm ở phía tây thành phố Bắc Kinh.
Có lẽ người dân sống lâu đời ở Bắc Kinh cũng chưa chắc đã đi hết khu vực này, từ các dãy nhà cổ kính, trang nghiêm như cung đình đến khu biệt thự nằm bên vườn cây rợp bóng.
Liễu Địch không biết Yến Viên có nhiều nhân tài như vậy. Một ông già trông rất bình thường đi thong thả trong sân trường có thể là một nhân vật được kính trọng của giới học thuật. Bạn cùng phòng ký túc xá có thể là "trạng nguyên" của một tỉnh nào đó. Nơi này hội tụ anh tài của cả nước, nơi này có nền giáo dục tốt nhất cả nước. Ở đây, không ai dám tự xưng là "thiên tài", cũng chẳng có người nào dễ dàng chịu thua. Ai nấy đều cố gắng học tập, âm thầm đọ sức.
Liễu Địch không biết bầu không khí học thuật ở Yến Viên lại tự do và sôi nổi như vậy. Ở nơi này, các loại tư tưởng, các loại quan điểm, các loại bè phái, các loại phương pháp đều có đất dụng võ. Bạn có thể tự do phát huy tài năng, phát biểu quan điểm của mình, tự do lựa chọn phương pháp học tập thích hợp. Học giả Thái Nguyên Bồi từng đề xuất và xác lập phong cách "thu gom tất cả" của nhà trường, đến bây giờ vẫn được áp dụng. Sinh viên có thể không lên lớp nhưng rất ít người lười biếng, ai nấy đều nỗ lực, đầu óc không ngừng vận động. Trong trường, hầu như ngày nào cũng dán thông báo về các buổi báo cáo học thuật và tọa đàm. Buổi tối, ở thư viện, đèn đóm sáng trưng, cả tòa nhà như con thuyền lớn lướt qua ngọn sóng trên mặt biển tối đen, tiến về phía trước...
Liễu Địch kinh ngạc và vô cùng hưng phấn. Cuối cùng cô cũng có thể lý giải câu nói của thầy Chương, đây là thánh đường của tinh thần và tri thức nhân loại. Cô như một đứa trẻ lang thang, đột nhiên lạc vào thánh đường kỳ diệu này nên nhất thời lóa mắt và luống cuống. Tuy không thể lập tức lĩnh hội tinh túy của Bắc Đại nhưng Liễu Địch rất say mê. Bắc Đại là nguyện vọng lớn nhất của cô, ngôi nhà của cô.
Liễu Địch sốt sắng lao vào vòng tay của Bắc Đại, ra sức tiếp thu tri thức. Cô nhanh chóng tìm thấy cảm giác mà thầy Chương từng nhắc tới: như cá gặp nước.
Trong niềm hưng phấn và say mê tột độ, Liễu Địch không vội đi tìm Giáo sư Tô Văn. Nhưng ngày thứ ba sau khi nhập học, Giáo sư Tô Văn đã tự tìm đến cô. Thế là Liễu Địch đi theo Giáo sư về nhà ông, Trúc Ngâm Cư nằm trong khu Kính Xuân Viên của Bắc Đại.
Kính Xuân Viên nằm bên cạnh Lãng Nhuận Viên, hai khu vực này có hồ khá rộng, ở đây có nhiều cây cầu bằng đá nối liền nhau, tạo thành vẻ đẹp hoang sơ. Ở Kính Xuân Viên đều là những ngôi nhà thấp, nằm xen lẫn giữa những lùm cây xanh, giống như phong cảnh thị trấn nhỏ thơ mộng ở Giang Nam.
Bên trong Kính Xuân Viên còn có hồ sen. Nhìn những đóa sen màu hồng nổi bật bên những phiến lá xanh, Liễu Địch bất chợt nhớ đến tản văn Ánh trăng bên hồ sen của Chu Tự Thanh. Không biết ánh trăng bên hồ sen này có đẹp như trong tản văn đó? Nhà của Giáo sư Tô Văn tọa lạc ở một rừng trúc nhỏ đằng sau hồ sen.
Vừa đi vào rừng trúc, Liễu Địch liền cảm thấy ánh sáng tối dần. Trên lối đi trải đầy những hòn đá dăm. Dưới tán trúc dày đặc, đến hòn đá cũng như nhuộm một màu xanh trong suốt. Gió thổi vào lá trúc, phát tiếng kêu xào xạc. Nơi tận cùng thấp thoáng mấy ngôi nhà có ngói xám, tường trắng. Trên bức tường trắng có một cánh cửa gỗ nhỏ, màu đỏ thẫm. Bên trên cánh cửa viết ba chữ ngay ngắn: "Trúc Ngâm Cư". Hai bên dán câu đối: "Nhàn xứ huề thư hoa hạ tọa, Hưng lai đắc câu trúc gian ngâm[2]", bên dưới ghi "Hải Thiên kính đề". Liễu Địch bất giác thầm cảm thán: "Câu đối hay quá! Chữ đẹp quá! Tên người rất hay!".
[2] Có nghĩa: Nhàn rỗi cầm sách ngồi dưới hoa, Hứng thú đến được câu trúc gian ngâm.
Đi qua cổng, Liễu Địch phát hiện bên trong là cái sân tương đối rộng. Trong sân có một đình nhỏ, mái vàng, cột đỏ. Trên cây cột cũng treo một câu đối được viết trên giấy đen, chữ vàng: "Số can tu trúc thất gian ốc, Nhất tịch thanh phong vạn hách vân[3]". Liễu Địch lại cảm thán: "Rất có khí phách!" Cô nhìn kĩ, bên dưới câu đối vẫn ghi "Hải Thiên kính đề".
[3] Có nghĩa: Trong khu rừng trúc có bảy gian nhà, Trên trời gió mát vạn rãnh mây.
Trong sân nhỏ đúng là có bảy gian nhà mái bằng, phía đông và tây có hai gian nối liền nhau, ba gian phòng chính còn lại là phòng khách, phòng uống trà và thư phòng. Bảy gian nhà được nối với nhau bằng hành lang dài. Trước mỗi cửa phòng đều trồng hai cây hải đường tứ phủ rất lớn.
Một điều khiến Liễu Địch ngạc nhiên là ngoài nhà bếp, sáu gian phòng còn lại đều được đặt những cái tên tao nhã và treo câu đối tương ứng. Phòng chính giữa gọi là "Nhã Tập Đường", câu đối là: "Khuynh hồ đãi khách hoa khang hậu, Xuất trúc ngâm thi nguyệt thượng thời."[4] Có hoa có trúc, rất phù hợp với đặc điểm của phòng khách và thú vui của chủ nhan. Phòng bên cạnh có tên "Trà Tiên Cốc Vũ", câu đối gồm tám chữ: "Tùng phong chử minh, Trúc vũ đàm thi"[5]. Thư phòng gọi là "Kim Thạch Ốc", câu đối càng thoát tục: "Gia hữu tàng mặc trang hương viễn, Môn vô tục khách trúc kính phong thanh"[6]. Phòng ngủ của vợ chồng Giáo sư Tô Văn có tên đặc biệt "Thê Thê Lư", câu đối là: "Điểu minh thiên hộ trúc, Thư chẩm nhất sàng phong."[7] Cũng không biết chim chóc hay con người nghỉ ngơi, hoặc là cả "song túc song thê[8]".
[4] Có nghĩa: Rót trà đãi khách chờ hoa nở, Xuất trúc ngâm thơ đón trăng lên.
[5] Có nghĩa: Rừng tùng gió nổi nấu trà uống; Rừng trúc mưa tuôn, mạn đàm thơ.
[6] Có nghĩa: Nhà trữ sách quý, hương mực thơm đưa tận nơi xa; Cửa không khách tục, đường trúc nghe vắng tiếng gió trong.
[7] Có nghĩa: Chim keu dìu dặt trúc lả lơi; Sáng thời gối tựa, gió thành chăn.
[8] Có nghĩa: cả hai cùng nghỉ ngơi.
Liễu Địch vừa đọc vừa thưởng thức, cô không khỏi thán phục tài năng của chủ nhân nơi đây. Cô chú ý, người viết các câu đối đều là "Hải Thiên". Hải Thiên là ai? Liễu Địch thầm nghĩ, người có tên Hải Thiên nhất định là người tài hoa và có học thức. Nhưng người đó có mối quan hệ như thế nào với Giáo sư Tô?
Sau đó, Giáo sư Tô đưa Liễu Địch tới gian phòng ở phía Tây. Phòng ngủ ở đó có tên "Sảng Ấp Trai", phòng bên cạnh có tên khiến Liễu Địch giật mình: "Hải Thiên Thư Ốc".
Liễu Địch không nén nổi tò mò, quay người hỏi Giáo sư Tô Văn: "Giáo sư, Hải Thiên là ai vậy ạ? Nhất định có quan hệ thân thiết với Giáo sư, đúng không ạ?"
"Tất nhiên!" Vợ Giáo sư Tô ở bên cạnh nở nụ cười hiền từ. "Đó là con trai của chúng ta."
"Dạ? Hóa ra con trai của Giáo sư." Liễu Địch bỗng hiểu ra vấn đề. Chả trách Hải Thiên tài hoa xuất chúng như vậy. Chỉ qua những câu đối và chữ viết, Liễu Địch có thể đoán đó là người am hiểm văn học cổ điển, có tâm hồn cao quý, thì ra được di truyền từ Giáo sư Tô Văn. Liễu Địch sinh lòng ngưỡng mộ Hải Thiên, cô rất muốn gặp chàng trai "Hải Thiên" đó.
"Anh ấy đang ở đâu ạ? Có ở Bắc Kinh không ạ?" Liễu Địch thăm dò.
"Không, con trai ta không ở Bắc Kinh, nó làm việc ở tỉnh khác." Giáo sư Tô Văn trầm ngâm. "Hai gian phòng này vốn là của Hải Thiên. Bây giờ nó không ở đây, hai gian phòng để trống mấy năm rồi." Giọng ông có vẻ buồn bã, ánh mắt dừng lại ở tấm biển đề "Hải Thiên Thư Ốc", chắc ông đang nhớ người con trai ở phương xa.
Sau đó, Giáo sư Tô đột nhiên quay sang Liễu Địch, cất giọng nhiệt tình và chân thành: "Liễu Địch, con dọn đến đây sống đi. Dù sao hai gian phòng này cũng bỏ trống, chi bằng con đến ở với chúng ta. Chúng ta sẽ chăm sóc con."
Liễu Địch ngẩn người, cô không ngờ Giáo sư Tô lại đưa ra đề nghị này. Cô mới chỉ gặp Giáo sư Tô hai lần, làm sao có thể nhận sự quan tâm đầy yêu thương của ông?
Liễu Địch vội từ chối: "Không cần đâu ạ, không cần làm phiền vợ chồng Giáo sư đâu ạ..."
"Phiền gì chứ?" Vợ Giáo sư Tô tiếp lời. Bà có khí chất cao quý nhưng rất hiền từ và nhiệt tình. Nụ cười của bà thật rạng rỡ, khóe mắt cũng như cười. "Liễu Địch, ta và con tuy lần đầu tiên gặp mặt, nhưng ta không coi con là người ngoài. Lần trước, thầy Tô về đến nhà liền kể với ta, ông ấy vừa nhìn thấy con đã thích ngay. Âu cũng là duyên phận. Con thử nghĩ xem, cả nước có bao nhiêu người thi vào Bắc Đại, vậy mà mỗi bài thi của con xảy ra vấn đề, người đi điều tra lại chính là Giáo sư Tô, lúc điều tra còn tình cờ gặp..." Bà im lặng một, hai giây rồi nói tiếp: "Trùng hợp như vậy, chứng tỏ con và chúng ta rất có duyên, đúng không? Ngôi nhà này lớn như vậy, Hải Thiên không biết bao giờ mới quay về. Mấy năm nay chỉ có hai ông bà già này trông nom bảy gian nhà, lạnh lẽo và cô độc biết bao..." Giọng của vợ Giáo sư Tô bỗng trở nên thê lương và nặng nề. "Chúng ta rất hy vọng có ai đó sống cùng, để chúng ta có thể cảm nhận được bầu không khí gia đình thật sự."
"Đúng đấy, Liễu Địch." Giáo sư Tô Văn nhìn Liễu Địch bằng ánh mắt tràn đầy yêu thương. Giọng nói của ông trịnh trọng, chân thành và chua xót. "Nếu con không không chê, con hãy coi nơi này là ngôi nhà ở Bắc Kinh của con, con hãy coi chúng ta là bố mẹ ở Bắc Kinh của con."
Liễu Địch cảm động nhìn hai người tóc đã bạc trắng. Ánh mắt buồn bã và sự nhiệt tình của họ khiến cô không thể tiếp tục từ chối.
Thế là Liễu Địch trở thành "khách quen" của Trúc Ngâm Cư. Nói thật, tuy Liễu Địch rất yêu Bắc Đại nhưng môi trường vệ sinh vừa bẩn vừa náo loạn ở ký túc xá khiến cô phát sợ. Vì vậy, cứ cách hai, ba ngày cô lại chạy đến Trúc Ngâm Cư. Hai ngày nghỉ cuối tuần, cô ở đó cả ngày. Cuối cùng, Giáo sư Tô cũng có thể thuyết phục Liễu Địch dọn đến Sảng Ấp Trai. Ông nói: "Cả hai gian phòng ở phía tây đều thuộc về con, con có thể sử dụng đồ đạc và sách vở tùy ý, Hải Thiên sẽ không tức giận đâu. Chỗ nó ở bây giờ cũng có rất nhiều sách." Vì vậy, hai gian phòng ở phía tây trở thành thế giới của Liễu Địch.
Khi mới dọn vào Sảng Ấp Trai, Liễu Địch có cảm giác nơi đó thật xa xỉ. Không phải vì gian phòng này xa hoa, lộng lẫy, ngược lại, Sảng Ấp Trai rất đơn giản. Tường quét vôi màu trắng, nền nhà lát xi măng sạch sẽ, cửa sổ lớn khiến căn phòng tràn ngập ánh sáng. Bên ngoài cửa sổ là những cây trúc. Buổi trưa, ánh nắng chiếu qua lá trúc lấp lánh. Bên cửa sổ là một chiếc bàn học, trên bàn là một ngọn đèn làm bằng thân cây trúc. Một chiếc giường gỗ kê sát vào tường, vỏ chăn màu xanh lục nhàn nhạt có hình bốn con thiên nga được thêu tay, sải cánh dài trên tầng mây. Trên tường treo một bức tranh vẽ cây trúc đen rất sống động. Bức tranh không có tiêu đề, cũng không đề tên người vẽ, nhưng xem ra là tác phẩm của chủ nhân gian phòng này.
Đúng vậy, nơi này rất mộc mạc, giản dị nhưng lại toát ra vẻ cao nhã, khiến con người có cảm giác hòa nhập vào thiên nhiên. Liễu Địch rất thích màu xanh lá cây mát mắt của gian phòng. Buổi tối nằm trên giường, nghe giai điệu của lá trúc, ngắm nhìn hình bóng của cây trúc và cây hải đường giao nhau trên tấm rèm cửa màu xanh nhạt, Liễu Địch mới hiểu hết hàm nghĩa của hai từ Sảng Ấp[9]. Những lúc như vậy, cô bất giác thầm cảm thán: "Người viết ra những câu đối tuyệt tác như Hải Thiên, không biết là bậc kỳ tài như thế nào?"
[9] Có nghĩa là mát mẻ.
Sau khi khám phá Hải Thiên Thư Ốc, sự ngưỡng mộ của Liễu Địch về "kỳ tài" Hải Thiên càng lớn.
Hải Thiên Thư Ốc là một phòng sách nhỏ. Bên trong gian phòng, ngoài một cái bàn và một cái ghế, bốn phía đều là giá sách. Liễu Địch phát hiện, sở thích đọc sách của Hải Thiên rất khác thầy Chương. Ở đây đa phần là sách tôn giáo, chính trị, địa lý... Những loại sách này gần như vắng bóng trên giá sách của thầy Chương.
Nơi này không có một cuốn sách văn học nào, dù là văn học cổ điển, văn học hiện đại, văn học nước ngoài hay những tác phẩm của tác giả vô danh. Không giống giá sách ở nhà thầy Chương, đều là những tác phẩm kinh điển.
Nhưng cũng chẳng có gì lạ lùng, Giáo sư Tô chuyên nghiên cứu văn học cổ điển, Kim Thạch Ốc của ông có rất nhiều sách văn học cổ điển nên con trai ông cần gì phải sưu tầm mấy thứ đó. Liễu Địch mở ra xem, cô phát hiện trong mỗi cuốn sách đều gạch chân những câu cần lưu ý hay viết lời nhận xét. Liễu Địch thấy nét chữ quen quen, nghĩ kĩ mới nhận ra giống chữ viết trên các câu đối ở Trúc Ngâm Cư, đều là bút tích của Hải Thiên. Liễu Địch không thể tưởng tượng, một người còn trẻ tuổi, sao có thể đọc nhiều sách đến vậy?
Liễu Địch tình cờ phát hiện ở một góc giá sách có quyển có tên Hải Thiên kỳ ngữ. Đó là một cuốn sách không dày, không mỏng. Liễu Địch xem ngày tháng, cuốn sách xuất bản từ bảy năm trước. Cô mở trang đầu tiên, đập vào mắt cô là tấm hình một chàng trai trẻ. Chàng trai có mái tóc đen, vầng trán rộng, sống mũi cao. Điểm thu hút nhất là đôi mắt đen láy, sáng ngời, tràn đầy sức sống, thể hiện sự uyên thâm và nhiệt huyết của tuổi trẻ. Đây là một gương mặt sáng sủa và nam tính. Liễu Địch bị người trong ảnh hoàn toàn thu hút ngay lập thức.
Sau đó, cô nhìn thấy dòng chữ giới thiệu tác giả bên cạnh tấm ảnh: Hải Thiên, nam, 21 tuổi, nguyên quán Giang Tô, hiện học khoa Trung văn, Đại học Bắc Kinh. Từ nhỏ yêu thích văn học, từng có vô số bài viết trên các báo và tạp chí. Là người có cách nhìn độc đáo, khả năng quan sát tinh tế, văn phong sắc bén, tình cảm chân thực. Được coi là tác giả trẻ có triển vọng nhất trên văn đàn.
Liễu Địch không khỏi kinh ngạc. Đây là sách xuất bản từ thời Hải Thiên học đại học, người này không biết là "thiên tài" như thế nào? Liễu Địch đem cuốn Hải Thiên kỳ ngữ về Sảng Ấp Trai. Không hiểu tại sao tim cô đập thình thịch như thể cô đang đọc trộm nhật ký của người khác.
Buổi tối hôm đó, cô đọc một lèo hết quyển sách này. Đây là một tuyển tập những bài viết. Liễu Địch bất giác bị quan điểm độc đáo, khả năng quan sát tinh tế và sắc bén, cũng như ngôn từ của cuốn sách này thu hút.
Ví dụ trong bài "Văn học và phê bình văn học", Hải Thiên viết:
"Làm một nhà phê bình văn học rất khó. Đầu tiên, anh ta phải có khả năng thưởng thức văn học, tiếp theo là phải có quan điểm khách quan và không thành kiến. Yếu tố thứ nhất còn dễ, yếu tố thứ hai thật không đơn giản chút nào.
Một nhà phê bình văn học mang nặng thành kiến thì làm sao có thể giúp độc giả? Hơn nữa, ở thời đại hỗn loạn này, rất nhiều người mượn phê bình văn học để mắng chửi người khác, khiến độc giả không thể lựa chọn. Độc giả không biết lựa chọn tác giả, tác giả cũng không biết lựa chọn phương hướng sáng tác. Như vậy, phê bình văn học hoàn toàn đánh mất giá trị.
Trên thực tế, độc giả thường lựa chọn tác giả và tác phẩm mình thích. Họ tiếp thu được bao nhiêu là vấn đề của họ, không cần người khác giúp đỡ, càng không cần sự giúp đỡ của các nhà phê bình văn học. Theo tôi thấy, thứ duy nhất có thể đánh giá giá trị của một tác phẩm không phải là độc giả, cũng không phải các nhà phê bình, mà là thời gian. Một tác phẩm vượt qua sự khảo nghiệm của thời gian chính là một tác phẩm hay. Nếu tác phẩm tồi tệ, chẳng cần người khác phê bình, công kích, nó sẽ tự động bị thời gian đào thải. Một nhà văn không cần quan tâm đến sự phê bình và công kích của người khác, chỉ cần trung thực với bản thân, có trách nhiệm với tác phẩm của mình là được."
Một bài viết sắc bén, có lý đến từng câu chữ. Liễu Địch chưa từng đọc một bài phê bình nào chân thực và sâu sắc đến thế.
Trong bài "Bàn về xu hướng của "dòng ý thức[10]", anh nhận xét về cái gọi là "dòng ý thức" văn học của thời đại bây giờ như sau:
[10] Dòng ý thức là một thuật ngữ văn học chỉ một xu hướng sáng tạo văn học (chủ yếu là văn xuôi) khởi điểm từ đầu thế kỷ 20, tái hiện trực tiếp đời sống nội tâm, xúc cảm và liên tưởng ở con người. Thuật ngữ "dòng ý thức" – Stream of consciousness được nhà tâm lý học người Mỹ William James đưa ra trong cuốn The Principles of Psychology (Cơ sở tâm lý học) xuất bản năm 1890, khi cho rằng ý thức là một dòng chảy, một dòng sông mà ở đó những tư tưởng, cảm xúc, liên tưởng bất chợt luôn lấn át nhau và đan bện một cách kỳ quặc, "phi logic".
"Bây giờ, cái gọi là "dòng ý thức" rất thời thượng. Tôi thêm từ "cái gọi là" bởi vì thứ mà phần lớn con người vận dụng không phải "dòng ý thức" thật sự, bọn họ chỉ là không ngừng tổ hợp câu chữ, khiến nó trở nên khó hiểu một chút, kỳ quặc một chút, lặp đi lặp lại mấy lần là được. Độc giả đọc không hiểu nên sẽ cảm thấy thâm sâu khó dò. Nhà phê bình không thể kết luận nó không hay ở điểm nào. Nếu đã không tệ thì tức là hay. Thật ra tôi cho rằng những thứ này chỉ biểu đạt một nội dung, đó là mất phương hướng. Bây giờ xã hội tồn tại vô số thanh niên rất đau đầu, phiền muộn về vấn đề lối ra, vấn đề hôn nhân và công việc… Rất nhiều người hoang mang vùng vẫy, họ đều bị mất phương hướng. Thế hệ này trở thành thế hệ mất phương hướng. Có một số thanh niên bị mất phương hướng thật sự, cũng có một số chỉ vì lạc lối mà buông thả bản thân. Tác phẩm văn học cũng vội vàng thể hiện xu thế mất phương hướng này, cuối cùng hoàn toàn mất phương hướng. Vì vậy tôi cảm thấy so với cái tên mỹ miều "dòng ý thức", thà gọi loại văn học này là "văn học mất phương hướng" còn thỏa đáng hơn."Liễu Địch bất giác đập bàn khen hay. Cô rất hả dạ. Cô ghét nhất những tác phẩm văn học khiến người khác đọc mà chẳng biết đâu mà lần. Lời nhận xét này đi thẳng vào tâm khảm của cô. Tuy nhiên, điều khiến Liễu Địch kinh ngạc hơn không phải là quan điểm độc đáo của Hải Thiên về văn học, mà là khả năng nhìn thấu nhân sinh của anh. Trong bài "Danh dự và cái chết", anh viết:
"Danh dự là gì? Nói trắng ra, danh dự chính là cách nhìn của người khác về bạn. Bạn có danh dự hay không, không phải vấn đề bản thân bạn có trong sạch hay không, mà là vấn đề người khác có thừa nhận bạn hay không. Vì vậy, từ xưa đến nay, rất nhiều người dùng cái chết để chứng minh sự trong sạch và bảo vệ danh dự của bản thân. Cách làm này tuy tiêu cực nhưng cũng rất hữu hiệu. Bởi trong hiện thực cuộc sống, con người không dễ thông cảm cho người sống, mà dễ thông cảm cho người chết. Con người thường nhớ tới khuyết điểm của người sống. Một khi người đó chết đi, con người sẽ dễ nhớ đến ưu điểm của họ. Vì vậy, dùng cái chết để chứng minh sự trong sạch, tuy phải bỏ cả mạng sống nhưng phần lớn có thể đạt được mục đích. Chỉ là, khi mỗi sinh mệnh sống tìm cách bảo vệ danh dự, càng nghiệm chứng một cách sâu sắc sự tàn khốc của xã hội."
Liễu Địch đọc đi đọc lại bài viết này. Cô cảm thấy bài viết quá sắc bén và nặng nề, đề cập đến tầng sâu vấn đề mà cô không thể chạm tới. Vậy mà Hải Thiên đã nhìn thấu xã hội và nhân sinh năm hai mươi mốt tuổi, chứng tỏ anh có khả năng quan sát tinh tế và tư tưởng sâu sắc đến mức nào?
Tuy nhiên, Liễu Địch luôn cảm thấy hình như cô đã được lĩnh giáo phong cách "đánh một phát trúng chỗ hiểm" này ở đâu đó. Nhưng cảm giác này như cái bóng vụt qua trong đầu, cô không thể nắm bắt, cũng không thể nhìn thấy. Tóm lại, khoảng thời gian này, Liễu Địch từ kinh ngạc đến cảm thán, từ cảm thán đến tán thưởng chàng trai chưa hề gặp mặt Hải Thiên. Sau khi đọc xong quyển Hải Thiên kỳ ngữ, cô phục sát đất, thậm chí sùng bái Hải Thiên.
Đêm hôm đó, cái tên Hải Thiên khắc sâu vào trí óc Liễu Địch. Gương mặt chàng trai trẻ tuổi tràn đầy sức sống trên tấm ảnh lần đầu tiên xuất hiện trong giấc mơ của cô.
Vợ chồng Giáo sư Tô Văn chăm sóc Liễu Địch rất chu đáo. Ở Giáo sư Tô, Liễu Địch cảm nhận được tình yêu vô bờ bến của một người cha. Đặc biệt, Giáo sư Tô cũng nghiên cứu văn học cổ điển, điều này khiến Liễu Địch càng thấy ông giống bố cô. Nhưng trong lĩnh vực văn học cổ điển, trình độ của Giáo sư Tô tất nhiên hơn bố cô nhiều lần.
Vợ Giáo sư Tô cũng thể hiện tình cảm của một người mẹ. Mỗi lần Liễu Địch đến Trúc Ngâm Cư, bà đều chuẩn bị các món mà cô thích khiến cô không khỏi ngại ngùng. Khi cô nói không cần phiền hà, bà chỉ mỉm cười hiền từ, nói: "Có gì đâu! Trước đây, Hải Thiên nhà chúng ta lúc nào cũng chén sạch sẽ. Nó thường nói với ta: "Mẹ à, nếu con béo phì, mẹ phải chịu trách nhiệm đấy nhé!" Lúc đó, người nó rắn chắc, khỏe mạnh lắm. Mấy năm nay nó sống ở bên ngoài..." Bà lắc đầu, thở dài: "Không biết thành bộ dạng gì rồi."
Tiếng thở dài của bà khiến Liễu Địch xót xa trong lòng. Tại sao Hải Thiên không thường xuyên về nhà? Có lẽ anh quá bận. Liễu Địch biết vợ chồng Giáo sư Tô rất nhớ con trai. Giáo sư Tô ít khi nhắc đến Hải Thiên nhưng ánh mắt ông vẫn vô tình bộc lộ sự nhớ nhung. Còn vợ Giáo sư Tô thường kể chuyện Hải Thiên với Liễu Địch. Một lần, bà lấy tập album ảnh Hải Thiên từ bảy, tám năm trước cho Liễu Địch xem. Không hiểu tại sao Liễu Địch bỗng có cảm giác Hải Thiên trông rất quen, cô đã từng gặp ở đâu đó rồi nhưng không nhớ rõ. Có lẽ Hải Thiên phù hợp với hình tượng "nam tử hán" trong lòng cô. "Nam tử hán" trong lòng? Hai má Liễu Địch nóng ran.
Sau đó, Liễu Địch giở đến tấm ảnh Hải Thiên chơi bóng rổ. Động tác chơi bóng rổ của anh rất tự nhiên và đẹp mắt. Liễu Địch ngẩng đầu, gương mặt cô lộ vẻ ngạc nhiên. "Anh Hải Thiên cũng biết chơi bóng rổ ạ?"
"Nó là đội trưởng đội bóng rổ khoa Trung văn." Bà Tô cất giọng tự hào. "Lúc đó, đội bóng của khoa Trung văn là đội duy nhất chơi ngang ngửa đội bóng rổ của trường. Hải Thiên chơi bóng rổ rất xuất sắc. Con không biết đâu, mỗi lần nó chơi bóng rổ, các sinh viên nữ đi cổ vũ rất đông."
"Trong đó chắc chắn có bạn gái của anh ấy, phải không ạ?" Liễu Địch hỏi nhỏ, gương mặt cô ửng hồng.
"Bạn gái ư? Không có." Bà Tô lắc đầu. "Hải Thiên khó tính lắm. Không giấu gì con, bốn năm học đại học, không biết có bao cô gái theo đuổi nó nhưng nó chẳng để mắt tới một ai. Yêu cầu về bạn gái của nó quá cao. Hải Thiên không quan tâm đến vẻ đẹp bề ngoài, nó thích người có khí chất, như nó từng nói: "tâm hồn hòa làm một". Haizz..." Bà lại thở dài. "Không phải ta khen con trai mình, cảnh giới tinh thần của nó quá cao, người bình thường không thể nào với tới."
Liễu Địch gật đầu đồng tình. Giáo sư Tô ngồi bên cạnh đột nhiên lên tiếng: "Hải Thiên là người rất nghiêm túc trong chuyện tình cảm, vì thế nó không dễ dàng mở cánh cửa trái tim. Một lần, một người bạn của nó, cậu lưu học sinh người Pháp, thất tình đòi tự sát. Hải Thiên đã lôi cậu ấy đến Sảng Ấp Trai, ở bên cậu ấy suốt ba ngày ba đêm. Ta nghe nó hét với cậu bạn: "Cậu không thể chết, trừ khi tình yêu của cậu đáng đổi bằng sinh mệnh. Nếu chết, cậu cũng nên chết cho người xứng đáng giành được tình yêu của cậu." Câu nói này đã thức tỉnh cậu du học sinh, cũng khiến ta rất cảm động. Con biết không? Nếu yêu một người con gái, Hải Thiên nhà ta sẽ yêu cô ấy bằng cả sinh mạng của mình. Thậm chí, nó có thể chết vì cô gái đó."
Liễu Địch thở dài. Người con gái khiến Hải Thiên có thể hy sinh cả mạng sống chắc phải siêu phàm, thoát tục, có lẽ không phải cô gái ở chốn nhân gian mà là tiên nữ.
Bà Tô cũng cảm thán: "Ta nghĩ cả cuộc đời này, chắc Hải Thiên sẽ không tìm được một người con gái như vậy."
"Cũng chẳng biết được." Giáo sư Tô liếc Liễu Địch bằng ánh mắt mang hàm ý sâu xa. "Nó xa nhà lâu như vậy, có lẽ đã tìm được người con gái vừa ý rồi cũng không biết chừng."
Liễu Địch chú ý đến ánh mắt của Giáo sư Tô, trong lòng cô hơi hoảng loạn. Cô biết, từ lúc đọc cuốn Hải Thiên kỳ ngữ, mỗi khi nghe nhắc đến hai từ "Hải Thiên", trong trái tim cô lại dấy lên một cảm xúc mà cô không thể nắm bắt, cũng không dám đối diện, đồng thời không thể phủ nhận sự tồn tại của nó. Lẽ nào Giáo sư Tô đã phát hiện ra tâm tình của cô? Liễu Địch quan sát Giáo sư Tô, trong mắt ông không hề có sự hoài nghi hay chế giễu.
Để che giấu nỗi hoảng loạn, Liễu Địch mỉm cười, nói: "Đến Tết kiểu gì anh Hải Thiên chẳng về nhà. Nếu có bạn gái, nhất định anh ấy sẽ dẫn về gặp vợ chồng Giáo sư mà."
Lần đầu tiên gọi "anh Hải Thiên[11]", Liễu Địch bỗng thấy có phần ngượng ngùng. Vợ chồng Giáo sư Tô đột nhiên trầm mặc. Một lúc sau, Giáo sư Tô lên tiếng: "Đúng vậy, Hải Thiên nên về nhà rồi. Bất luận thế nào, Tết này ta cũng phải nghĩ cách kêu nó về nhà."
[11] Nguyên văn là: Hải Thiên ca, cách gọi thân thiết.
Trời ạ, một chuyến về thăm nhà cũng bắt bố "nghĩ cách", Hải Thiên chắc là người làm việc điên cuồng. Tuy nhiên, Hải Thiên sắp về nhà. Tết này cô sẽ được gặp Hải Thiên. Liễu Địch rất mong được gặp nhân vật lẫy lừng mà cô mong đợi. Thậm chí cô nghĩ, để được gặp Hải Thiên, cô có thể không về quê ăn Tết.
Buổi tối hôm đó, Liễu Địch về Sảng Ấp Trai từ sớm. Lúc nằm trên giường, cô mơ hồ nghe thấy bà Tô nói: "Cô bé Liễu Địch với Hải Thiên của chúng ta đúng là một cặp trời sinh."
Sau đó, Liễu Địch nghe tiếng Giáo sư Tô thở dài. "Chỉ đáng tiếc..."
"Sao thế?" Bà Tô hỏi. "Đến một cô bé xuất sắc như vậy mà Hải Thiên cũng sẽ không ưng sao?"
"Chỉ e.." Giọng của Giáo sư Tô trở nên nặng nề: "Chỉ e Liễu Địch không ưng thằng bé."
Mình không ưng Hải Thiên? Liệu có chuyện đó sao? Liễu Địch nghĩ thầm, đột nhiên rất thẹn thùng. Dù sao Hải Thiên cũng sắp trở về. Cuối cùng cô cũng được gặp Hải Thiên.
Cứ như vậy, hình bóng của Hải Thiên tràn ngập trong tâm trí Liễu Địch. Cuộc sống đại học vô cùng bận rộn, rất phong phú, tràn đầy lý tưởng và ước mơ. Liễu Địch say mê tiếp thu tri thức, khám phá, mơ ước, khát khao, phấn đấu. Thế là cái tên Chương Ngọc dần nhạt nhòa trong đầu óc và cuộc sống của cô, trở thành một hình bóng mơ hồ chôn sâu trong ký ức. Cô nhất thời quên mất thầy Chương.
Chương 15
Bên bờ hồ Vị Danh, liễu rủ, những cây hòe, bạch quả trải đầy lá vàng trên lối đi. Những cây phong trên hòn đảo nhỏ giữa hồ rực sắc đỏ. Yến Viên ngập chìm trong cảnh sắc cuối thu.
Một buổi chiều trời mây quang đãng, gió thổi mát lạnh, ánh nắng dịu dàng tràn ngập khắp không gian, Liễu Địch lần đầu tiên rời khỏi cánh cổng trường Bắc Đại kể từ khi nhập học.
Đi khỏi trường làm gì? Liễu Địch không biết. Có lẽ cô muốn xem thế giới ở bên ngoài Bắc Đại. Hai tháng nay, cô chìm đắm trong cuộc sống của một sinh viên đại học, gần như quên mất bên ngoài bờ tưởng của Yến Viên là một thế giới rộng lớn hơn.
Hôm nay là thứ Sáu, ngày thanh thản nhất trong tuần. Thời tiết rất tuyệt, trời xanh mây trắng, làn gió thu mát rượi, ánh nắng chan hòa, Liễu Địch tựa hồ nghe thấy một tiếng gọi nào đó trong tiềm thức. Thế là cô vô thức đi khỏi khuôn viên của Bắc Đại.
Rời khỏi cánh cổng phía tây của Yến Viên cổ kính, Liễu Địch cảm thấy như mình được trở về một thế giới xa cách đã lâu. Trên đường phố rộng lớn, xe cộ qua lại như mắc cửi, hai bên đường đều là những tòa nhà cao tầng, người đi lại tấp nập. Đây vốn là cuộc sống đô thị quen thuộc với Liễu Địch, nhưng hôm nay, cô chợt cảm thấy nó có phần xa lạ. Giống như ở trong tháp ngà quá lâu, Liễu Địch lãng quên mọi thứ ở bên ngoài tòa tháp.
Liễu Địch chậm rãi đi trên vỉa hè trong cảm giác như cách một thế kỉ. Không biết sau bao lâu, cũng không rõ đã đi đến chỗ nào, Liễu Địch chợt phát hiện trước mặt cô là một trạm xe buýt. Bến xe? Từ này chạm đến sợi dây nào đó từ đáy sâu tâm hồn Liễu Địch, đánh thức hình bóng chôn sâu trong ký ức của cô. Bến xe buýt ở Bắc Kinh lớn gấp mấy lần ở quê nhà. Ở đây có mái che, có ghế ngồi đàng hoàng. Liễu Địch ngơ ngẩn ngồi xuống ghế, ý thức của cô vẫn mơ hồ. Bên cạnh bến xe là cây hòe cổ thụ, lá vàng rơi đầy trên mặt đất. Là cây hòe chứ không phải cây dương liễu.
Liễu Địch ngó xung quanh như muốn tìm kiếm điều gì đó. Một trận gió thổi qua, lá hòe bay xuống, rơi cả vào lòng Liễu Địch. Liễu Địch lặng lẽ cầm một chiếc lá, đưa lên mũi ngửi. Chiếc lá tuy đã ngả màu vàng nhưng vẫn thoang thoảng mùi hương. Khi chiếc lá chạm vào đầu mũi, Liễu Địch còn có cảm giác ấm áp. Đột nhiên, cô như nghe thấy một giọng nói trầm ấm vang lên bên tai: “Mỗi chiếc lá rụng đều có mùi của mặt trời.”
Liễu Địch đứng bật dậy theo phản xạ, cô buột miệng gọi tên một người đã lâu không nhắc tới: “Thầy Chương!” Cô hốt hoảng quan sát xung quanh. Không, ở đây không có thầy Chương, chỉ có mấy người đang đợi xe buýt nhìn cô bằng ánh mắt kỳ lạ. Trong một khoảnh khắc, Liễu Địch không nhìn rõ rốt cuộc cô đang ở đâu. Ý thức của cô lại chìm vào hư vô mờ mịt. Nơi sâu thẳm trong tâm hồn cô có thứ gì đó đang vẫy gọi, ngày càng mãnh liệt, rõ ràng. Liễu Địch cảm thẩy một tình cảm ẩn giấu trong tâm hồn cô đang sống lại, nảy mầm và lớn lên. Liễu Địch như có thể chạm vào tình cảm đó, nhưng cô không thể nói rõ đó rốt cuộc là gì. Cô vô thức rời khỏi bến xe, vô thức quay lại cánh cổng phía tây của Yến Viên. Cô không biết mình đang đi đâu, cô chỉ bước những bước mơ hồ theo tiếng gọi từ đáy sâu tâm hồn.
Cứ như vậy, Liễu Địch vô thức đi xuyên qua Yến Nam Viên, đến thẳng khu vực có sáu toà nhà hành chính theo kiểu Trung – Tây kết hợp. Đây là văn phòng của các khoa trong trường. Liễu Địch dừng lại trước một tòa nhà. Cô ngước nhìn ngồi nhà toát lên vẻ cổ điển trong kiến trúc phương Tây. Trong lúc ngẩn ngơ, Liễu Địch dường như cảm thấy mình đang đứng trước tòa nhà phía bắc cũ kĩ của ngôi trường cấp ba, trong lòng đột nhiên trào dâng một sự xúc động khó diễn tả. Liễu Địch không suy nghĩ, lập tức chạy vào cầu thang của tòa nhà, lên thẳng tầng bốn. Cô như quay trở lại những năm tháng trước đây. Ba năm liền, ngày nào cô cũng chạy lên cầu thang như lúc này.
Đến một văn phòng nhỏ nằm ở cuối hành lang trên tầng bốn, Liễu Địch thở hổn hển. Cô lau mồ hôi trên trán, điều hòa nhịp thở theo thói quen rồi giơ tay, chuẩn bị gõ cửa. Cánh cửa đột nhiên mở ra. Liễu Địch giật mình... Đây không phải sự việc trong trí nhớ quen thuộc của cô. Một người đàn ông trung niên từ văn phòng đi ra. Ông nhìn Liễu Địch bằng ánh mắt nghi hoặc, lên tiếng hỏi: “Bạn sinh viên, em đến đây làm gì?”
Mình đến đây làm gì nhỉ? Liễu Địch tự hỏi. Cô ngẩng đầu nhìn tấm biển treo trên cửa: Văn phòng khoa Trung văn. Mình đến văn phòng khoa Trung văn làm gì? Làm gì nhỉ? Liễu Địch hoang mang tự hỏi.
Bắt gặp bộ dạng hồn bay phách lạc của Liễu Địch, người đàn ông trung niên thấy không yên tâm, lại hỏi: “Em muốn tìm thầy cô nào phải không?”
Tìm thầy cô nào? Liễu Địch bừng tỉnh. Đúng rồi, cô muốn tìm một thầy giáo, người thầy trong lòng cô, người thầy mãi mãi tồn tại trong ký ức của cô. Mọi ký ức bị lãng quên được thức tỉnh trong tích tắc, mọi tình cảm bị phong kín hồi sinh trong tích tắc. Liễu Địch lại nghe thấy tiếng gọi từ đáy sâu tâm hồn mình. Lúc này, nó trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết, không ngừng vang lên bên tai cô: “Đi tìm thầy Chương! Đi tìm thầy Chương!”
Liễu Địch lập tức quay người, chạy khỏi tòa nhà văn phòng. Cô vừa chạy vừa sốt ruột tìm kiếm. Cuối cùng, cô cũng tìm thấy một bốt điện thoại công cộng. Cô lao đến, nhấc ống nghe, nhét thẻ từ rồi bấm một dãy số.
Điện thoại được kết nối, Liễu Địch nghe thấy một giọng nói già nua: “Xin hỏi muốn tìm ai?”
Là giọng nói quen thuộc của ông Lý. Liễu Địch liền hét vào ống nghe: “Ông Lý, cháu là Liễu Địch! Cháu muốn tìm thầy Chương, cháu tìm thầy Chương Ngọc!”
“Cháu... cháu tìm thầy Chương Ngọc sao?” Ông Lý có vẻ không tiện lên tiếng.
“Vâng ạ! Cháu muốn tìm thầy ấy! Cháu muốn nói chuyện với thầy bây giờ, cháu muốn nghe thấy giọng nói của thầy bây giờ!” Liễu Địch tỏ vẻ vô cùng sốt ruột. “Cháu xin ông hãy nhanh nhanh một chút, được không ạ?”
“Được!...” Ông Lý dường như hơi phân vân. “Để ông đi tìm thầy ấy.”
Trái tim Liễu Địch như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Thầy Chương sắp tới rồi, cô sắp được nghe giọng nói của thầy rồi. Thời gian chầm chậm trôi đi. Liễu Địch nhìn đồng hồ, kim phút vẫn không hề nhúc nhích. Chờ đợi, chờ đợi... mỗi giây, mỗi phút chờ đợi như chịu đựng trăm ngàn nỗi giày vò. Cho đến bây giờ, Liễu Địch chưa từng trải qua sự chờ đợi mãnh liệt như vậy.
Một lúc sau, Liễu Địch dường như nghe thấy ở đầu bên kia điện thoại có rất nhiều tiếng thì thầm to nhỏ, thỉnh thoảng xen lẫn tiếng cười khe khẽ. Đã đến giờ tan học rồi sao? Hình như không phải, người cố ý hạ thấp giọng nói đó có vẻ rất kỳ lạ. Nhưng mặc kệ, thầy Chương sắp đến rồi! Sao vẫn chưa thấy đâu cả? Mặc dù trời hơi lạnh nhưng Liễu Địch vẫn toát mồ hôi. Lần đầu tiên cô có cảm giác, hóa ra thời gian cũng có thể hành hạ con người. Tiếng nói chuyện xì xào ở đầu kia điện thoạt đột nhiên biến mất. Liễu Địch nghe thấy tiếng bước chân quen thuộc, trái tim cô như ngừng đập. Sau đó, cô nghe thấy giọng nói trầm thấp vô cùng quen thuộc: “A lô! Tôi là Chương Ngọc!”
Sống mũi Liễu Địch cay cay, nước mắt trào ra, cổ họng tắc nghẹn. Cô vô cùng xúc động, nhịp tim đập mỗi lúc một nhanh, máu trong huyết quản như sôi sục. Bàn tay cầm ống nghe điện thoại run run, trái tim cô cũng run rẩy từng hồi. Cô muốn hàn huyên vài câu nhưng vừa mở miệng, tâm trạng xúc động trào ra theo giọng nói: “Thầy Chương, em là Liễu Địch! Em đang ở Bắc Kinh, gọi điện cho thầy. Em không rõ vì sao mình lại gọi cho thầy như thế này, em chỉ biết em không thể không gọi. Em rất muốn, rất muốn nghe giọng nói của thầy! Thầy có khỏe không ạ? Công việc có thuận lợi không ạ? Thầy đang dạy lớp mấy? Ai giúp thầy chấm bài? Ai tiễn thầy ra bến xe buýt? Ai quét dọn văn phòng của thầy? Ai lĩnh lương giúp thầy? Thầy còn chơi guitar không ạ? Còn hát không ạ? Có nhớ Bắc Đại không ạ? Thầy Chương...” Liễu Địch đột nhiên ngừng lại. Sau đó, cô thốt ra ba từ bằng tất cả tâm hồn mình: “Em nhớ thầy!”
Hai đầu điện thoại cùng im lặng, chỉ nghe thấy tiếng thở của nhau. Liễu Địch hít một hơi thật sâu, cô chưa bao giờ trải qua tình cảm mãnh liệt, cũng chưa bao giờ tâm tình trào dâng cuồng nhiệt như vậy. Nước mắt chảy dài xuống gò má. Thứ tình cảm ẩn giấu trong lòng cô vừa đâm chồi, được giọt lệ tưới tắm, nhanh chóng sinh sôi. Liễu Địch lau khô nước mắt, đôi mắt cô lúc này ngời sáng. Sau đó, cô tiếp tục: “Thầy Chương! Em ở Bắc Đại rất tốt. Thầy nói đúng, Bắc Đại thật sự là một thánh đường. Hiện tại em đang sống ở Trúc Ngâm Cư của Giáo sư Tô, đó là một nơi tuyệt vời như chốn thần tiên. Vợ chồng Giáo sư Tô đối xử với em rất tốt, coi em như con gái. Em biết nhiều giảng viên, cũng làm quen với nhiều bạn bè. Đúng rồi, thứ Bảy tuần trước em còn gặp Giáo sư Quý Tiễn Lâm[1] ở Trúc Ngâm Cư. Em đã nói chuyện với ông ấy cả buổi chiều. Em nghĩ, trong bốn năm tới, em nhất định thu hoạch được nhiều điều từ Bắc Đại, em sẽ dùng nó để tạo ra tương lai tươi sáng của mình. Thầy Chương, thầy có tin em không?”
[1] Quý Tiễn Lâm (1911-2009): giáo sư Đại học Bắc Kinh, nhà ngôn ngữ học Trung Quốc, dịch giả văn học, chuyên gia chữ Phạn và ngôn ngữ Pali.
Đầu bên kia điện thoại vẫn im lặng.
“Thầy Chương!” Liễu Địch nói tiếp. “Thầy hãy kể cho em về thầy đi, được không ạ? Thầy vẫn ở văn phòng trên tầng bốn của tòa nhà phía bắc đấy chứ? Ở đó có lạnh không? Học sinh mới giúp thầy có trách nhiệm như em không? Chậu hoa nhài của em vẫn tươi tốt chứ? Cây dương liễu và đinh hương ở bến xe chắc rụng lá rồi, chúng...” Liễu Địch đột nhiên ôm miệng. Hoa nhài, dương liễu, đinh hương là những thứ thầy không nhìn thấy. Cô nhanh chóng chuyển sang chuyện khác: “Thầy Chương, thầy kể về cuộc sống của thầy đi ạ!”
Đầu kia điện thoại vẫn không một tiếng động.
Liễu Địch hơi hốt hoảng. Bây giờ cô mới chú ý, kể từ lúc nhận điện thoại, thầy Chương chưa nói một câu nào, thậm chí còn không có lấy một tiếng thở dài. Liễu Địch lắc lắc ống nghe, điện thoại chưa bị ngắt, bởi cô lại nghe thấy tiếng rì rầm to nhỏ từ đầu bên kia truyền tới. Cô linh cảm có chuyện gì đó bất thường. Lẽ nào thầy Chương gặp phiền phức? Một nỗi hoảng sợ dấy lên trong lòng Liễu Địch, cô liền cất cao giọng: “Thầy Chương, thầy làm sao vậy? Thầy nói gì đi ạ! Thầy gặp chuyện gì rồi? Thầy Chương, thầy lên tiếng đi ạ! Thầy nói một câu có được không? Thầy làm sao vậy, thầy Chương?”
Đầu kia vang lên một tiếng “cạch”, điện thoại đã bị ngắt.
Liễu Địch sững sờ. Tiếng “cạch” đó tựa hồ tiếng dao sắc nhọn cứa vào lòng cô. Bàn tay cầm ống nghe của cô càng run rẩy. Trong lòng cô trào dâng một nỗi hoảng sợ khó diễn tả, hai chân mềm nhũn.
Ngoài nỗi hoảng sợ, cảm giác lo lắng, bất lực, điên cuồng, chua xót… cùng một lúc tấn công trái tim nhỏ bé của Liễu Địch. Cô chưa bao giờ trải qua cảm giác này, cô thấy mình như sắp sụp đổ. Liễu Địch lập tức thả điện thoại, nhanh chóng lao ra ngoài, quên cả rút thẻ từ. Cô không biết mình đã chạy đi đâu. Huyết mạch trên người cô sôi sục, tình cảm trong cô cuộn trào, cô cần phải giải tỏa, cần tìm một nơi để giải tỏa. Liễu Địch chạy theo ý thức mơ hồ. Cuối cùng, cô phát hiện cô đang đứng trước cổng của Trúc Ngâm Cư.
Liễu Địch không do dự lao vào bên trong.
Giáo sư Tô đang ngồi ngoài đình đọc sách. Thấy bộ dạng hớt hơ hớt hải của Liễu Địch, ông vội buông quyển sách, đứng dậy, kéo cô lại gần, hỏi han: “Liễu Địch, con làm sao thế? Con bị ốm à? Sắc mặt của con sao xấu vậy?”
Liễu Địch ôm chặt Giáo sư Tô như ôm vị thần bảo vệ. “Giáo sư Tô! Con sợ!”
“Đừng sợ, đừng sợ!” Giáo sư Tô một tay ôm Liễu Địch, một tay vỗ nhẹ lên vai cô, an ủi. “Con đang ở Trúc Ngâm Cư, có ta ở bên cạnh, con không việc gì phải sợ. Dù trời có sập xuống, ta cũng sẽ chống đỡ cho con.”
Giọng nói của Giáo sư Tô rất dịu dàng. Liễu Địch bất giác ngẩng đầu, nhìn ông, ánh mắt đầy cảm kích. Ông đúng là người cha hiền từ, dù không rõ nguyên nhân khiến con gái sợ hãi nhưng ông vẫn cất lời an ủi. Nhờ câu nói của Giáo sư Tô, nỗi sợ hãi trong lòng Liễu Địch cũng vơi đi. Giáo sư Tô đỡ cô ngồi xuống chiếc ghế đá trong đình.
“Nói cho ta nghe, tại sao con lại sợ hãi như vậy?” Giáo sư Tô hỏi.
“Con không biết.” Liễu Địch thật thà trả lời. “Con vừa gọi điện cho thầy Chương.”
Giáo sư Tô rùng mình. “Thầy Chương làm sao rồi?” Giọng ông không còn vẻ bình tĩnh và ung dung nữa.
Liễu Địch lắc đầu, cô đã hoàn toàn tỉnh táo. “Con không biết thầy bị làm sao. Thầy nghe điện thoại nhưng không nói câu nào. Điều này khiến con hoảng sợ. Con lo thầy gặp phiền phức gì đó.”
Liễu Địch đột nhiên bị kích động, ánh mắt sáng rực. “Giáo sư Tô, con không biết thầy bị làm sao, nhưng con biết con bị làm sao rồi.” Cô hít một hơi sâu rồi cất giọng kiên định: “Con yêu thầy! Con yêu thầy! Con yêu thầy Chương!”
Lời vừa thốt ra miệng, Liễu Địch hoàn toàn sửng sốt. Trời ạ, cô vừa nói gì vậy? Tại sao cô lại nói câu này? Tuy nhiên, trong tâm trạng xúc động, cô đã nhận thức một cách sâu sắc, lời cô vừa nói là “sự thật”. Đúng vậy, cuối cùng cô đã hiểu, thứ tình cảm điên cuồng nảy sinh trong cô chính là tình yêu, là tình yêu dành cho thầy Chương! Việc cô yêu thầy là sự thật không thể thay đổi.
Giáo sư Tô dường như cũng bị chấn động, ông ngẩng đầu, thăm dò: “Liễu Địch, con có biết con đang nói gì không? Con yêu thầy Chương? Con bắt đầu yêu Chương Ngọc từ lúc nào?”
Liễu Địch lắc đầu. “Con cũng không biết con bắt đầu yêu thầy từ khi nào. Có lẽ từ rất lâu rồi. Nhưng đến hôm nay, con mới phát hiện ra tình cảm của con, thứ tình cảm vô cùng mãnh liệt mà con chưa từng trải qua.” Cô đột nhiên đứng dậy, gương mặt ngời sáng lạ thường. “Đúng vậy, con phát hiện con đã yêu thầy. Cả sinh mệnh của con, tâm hồn của con đều yêu thầy!”
“Vậy sao?” Giáo sư Tô nhíu mày, nhìn Liễu Địch chăm chú. Ánh mắt ông lộ vẻ nghiên cứu và phán đoán. “Ta còn tưởng những ngày vừa qua con đã bị đứa con trai yêu quý của ta thu hút.”
Hải Thiên? Liễu Địch mơ hồ nghĩ. Hải Thiên là người tài hoa xuất chúng, học rộng biết nhiều, đa tài, phóng khoàng, nhiệt tình, có cặp mắt sáng, yêu một người con gái bằng cả sinh mạng… Anh là hình tượng nam tử hán lý tưởng nhất trong lòng cô, anh từng chiếm hữu tư tưởng cô, từng len lỏi vào giấc mơ của cô, từng khiến cô rung động. Tuy nhiên, những điều này như là chuyện của mấy trăm năm trước. Liễu Địch ngước nhìn Giáo sư Tô, cất giọng kiên định và rõ ràng: “Giáo sư Tô, anh Hải Thiên là người đàn ông xuất sắc, con chưa gặp người xuất sắc hơn anh ấy. Con khâm phục anh ấy, ngưỡng mộ anh ấy. Con thừa nhận, có một khoảng thời gian, đúng là con bị anh ấy thu hút. Thế nhưng…” Cô đột nhiên ngẩng cao đầu. “Hôm nay, cuối cùng con cũng nhận ra tình cảm của mình. Có thể con nhất thời bị anh Hải Thiên mê hoặc, nhưng con đối với thầy Chương là sự tôn kính gần như sùng bái. Thầy khiến con bị khuất phục tự đáy lòng, khao khát tự đáy lòng, yêu thương tự đáy lòng. Tình cảm của con đối với thầy có cả sự sùng bài, ái mộ, khát khao, quyến luyến… Đây là tình cảm đã được tôi luyện qua ba năm con và thầy cũng trải qua phong ba bão táp, là tình cảm nảy sinh từ sự tin tưởng, chia sẻ cùng nhau. Con luôn đau nỗi đau của thầy, niềm vui của thầy cũng là niềm vui của con. Tình cảm này rất thần kỳ, mãnh liệt. Nếu đó không phải là tình yêu thì con không biết gọi là gì nữa!”
Giáo sư Tô lặng lẽ nhìn Liễu Địch. Vẻ mặt của cô rạng rỡ, tỏa ánh hào quang sáng chói. Giáo sư Tô hết sức cảm động bởi tình cảm kinh thiên động địa đó. Nhưng nơi đáy mắt ông vụt qua một tia đau đớn, sắc mắt ông trở nên trắng bệch. Ông dường như phân vân một lúc, cuối cùng cũng thốt nên lời: “Con gái, con có biết không? Hải Thiên thật ra chính là thầy Chương của con!”
Có bị sét đánh trúng thì Liễu Địch cũng không chấn động như khi nghe câu nói của Giáo sư Tô. Cô như hóa đá, chân tay tê dại. Cô mở to mắt nhìn Giáo sư Tô một lúc lâu mới lắp bắp hỏi: “Anh Hải Thiên… là thầy Chương? Anh Hải Thiên… chẳng phải là con trai Giáo sư sao?”
“Cô bé ngốc này!” Giáo sư Tô cất giọng đau đớn. “Hải Thiên chính là thầy Chương! Tên đầy đủ là Chương Hải Thiên, Chương Ngọc là tên trước kia. Nó không thích tên Chương Ngọc nên lúc đăng ký thi đại học, nó đã giấu bố mẹ sửa lại tên trong hộ khẩu. Sau khi xảy ra vụ hỏa hoạn, để mọi người không tìm ra tung tích của nó, lúc đăng ký lại hộ khẩu, nó đã dùng cái tên trước kia. Hải Thiên đúng là suy nghĩ đâu ra đấy. Sau khi nó mất tích, trong quá trình tìm kiếm, thậm chí ta đã đến thành phố của con, nhưng kết quả đều là “điều tra không ra người này”. Ngay cả khi đọc bài văn của con, ta cũng không ngờ “Chương Ngọc” và “Chương Hải Thiên” là một người.
“Nhưng…” Liễu Địch vẫn hết sức nghi hoặc. “Anh Hải Thiên chẳng phải là con trai của Giáo sư sao?”
Giáo sư Tô thở dài, ngước nhìn bầu trời lúc chiều tà, như hồi tưởng năm tháng xa xưa. “Hải Thiên đúng là con trai của ta. Chúng ta không có con. Ta biết Hải Thiên từ chín năm trước. Kể từ lúc đó, ta đã yêu quý nó như con ruột. Hải Thiên cũng yêu quý chúng ta. Sau một thời gian, Hải Thiên dọn đến Trúc Ngâm Cư, trở thành thành viên không thể thiếu của gia đình ta. Nó có phòng ngủ và thư phòng riêng, nó gọi chúng ta là bố mẹ, đối xử với chúng ta như bố mẹ ruột. Chúng ta cũng coi nó như con ruột. Bởi vì quên ở rất xa nên Hải Thiên thường ăn tết ở đây. Năm năm trước, bố mẹ Hải Thiên chuyển công tác lên miền Bắc, đó là lần đầu tiên nó về ăn Tết cùng bố mẹ. Không ngờ nó một đi không trở lại... Cô bé ngốc này, con ở Trúc Ngâm Cư lâu như vậy, lẽ nào con không phát hiện ra hay sao?”
Đúng vậy, tại sao mình không phát hiện ra? Liễu Địch ngẫm nghĩ, cô từ từ hồi tưởng một số đầu mối mà trước đây cô không lưu ý. Thảo nào sách ở Hải Thiên Thư Ốc gần như không có cuốn nào trùng với sách của thầy Chương. Thảo nào nhìn ảnh của Hải Thiên, cô có cảm giác quen thuộc, mái tóc đen đó, đường nét cương nghị đó, thân hình cao lớn đó chẳng phải là nét đặc trưng của thầy Chương sao? Thảo nào cô thấy lời lẽ của Hải Thiên kỳ ngữ rất quen thuộc, đó chẳng phải là phong cách nhận xét bài làm văn của thầy Chương sao? Thảo nào mỗi khi nhắc đến Hải Thiên, vợ chồng Giáo sư Tô đều lộ vẻ bi thương. Thảo nào Hải Thiên một thời gian dài không về nhà... Trời ạ, bao nhiêu đầu mối như vậy mà cô lại bỏ qua!
Nhưng cũng phải thôi, làm sao Liễu Địch có thể ngờ, Hải Thiên tràn đầy sức sống, Hải Thiên có đôi mắt sáng ngời và thầy Chương cả ngày đeo cặp kính đen lạnh lùng, cao ngạo lại là một người. Liễu Địch cảm thấy trái tim mình đang nhói đau, nỗi đau chưa từng có. Cô vùi đầu vào lòng bàn tay, chìm đắm trong ký ức.
Một lúc lâu sau, Liễu Địch ngẩng đầu, khóe mắt ngấn lệ. Cô cất giọng chậm rãi: “Con từng nói thầy Chương là người anh hùng có số phận bi kịch. Bây giờ con đã hiểu hàm nghĩa của từ “bi kịch”. Bi kịch chính là những thứ đẹp đẽ bị phá hủy. Nhà văn Lỗ Tấn nói rất đúng. Thầy Chương chính là vẻ đẹp bị số mệnh hủy diệt. Nhưng vẻ đẹp mãi mãi là đẹp, dù có bị nghiền thành mảnh vụn cũng vẫn đẹp.” Cô đột nhiên nắm tay Giáo sư Tô. “Giáo sư Tô, con yêu vẻ đẹp của thầy Chương, con không bận tâm thầy ấy bị hủy diệt đến mức nào. Chắc Giáo sư cũng hiểu tính con, vậy tại sao Giáo sư không nói sớm cho con biết?”
Giáo sư Tô nhìn vào cặp mắt trong veo của Liễu Địch, cất giọng chua xót và bất lực: “Con gái, kể từ lần đầu tiên gặp con, ta đã biết con không phải người tầm thường. Nhưng ta không thể nói với con sự thật, là vì Chương Ngọc không cho ta nói.”
“Tại sao?” Liễu Địch nghi hoặc. “Tại sao thầy Chương phải làm vậy?”
“Bởi vì...” Giọng nói của Giáo sư Tô càng có vẻ khổ sở. “Bởi vì Hải Thiên luôn yêu con! Nó không muốn làm hại con!”
Liễu Địch đứng bật dậy, mở to hai mắt, vẻ mặt đầy kinh ngạc và xúc động. “Giáo sư nói gì cơ?” Cô lắp bắp. “Giáo sư nói... thầy Chương... yêu con?”
“Đúng vậy, Hải Thiên rất yêu con!” Giáo sư Tô không hề do dự. “Yêu con không lời nào tả xiết.”
Liễu Địch ngẩn người, mãi mới có phản ứng: “Sao... sao Giáo sư biết... thầy... yêu con?”
Giáo sư Tô thở dài, vẫy tay ra hiệu cho Liễu Địch ngồi xuống. “Liễu Địch, con còn nhớ hôm ta gặp lại Chương Ngọc ở văn phòng không? Lần Chương Ngọc đuổi con ra ngoài ấy?”
Liễu Địch gật đầu.
“Buổi nói chuyện với Hải Thiên hôm đó là cuộc trò chuyện đau khổ nhất trong cuộc đời ta.” Giáo sư Tô chìm vào ký ức đau đớn, vẻ mặt ông vô cùng nặng nề và bi thương. “Hải Thiên mất tích là nỗi đau rất lớn của ta. Sau một thời gian dài tìm kiếm mà không có kết quả, ta thậm chí đã cho rằng nó không còn sống trên cõi đời này. Nhưng ta nằm mơ cũng không ngờ Hải Thiên lại ra nông nỗi đó. Khi nhìn thấy nó dò dẫm pha trà cho ta, ta cảm thấy thà ta nghe tin nó chết còn hơn là chứng kiến cảnh tượng trước mắt. Liễu Địch, nỗi đau trong lòng ta, có lẽ bây giờ con đã hiểu được ít nhiều. Còn lúc đó con chưa thể lĩnh hội, bởi vì con chưa gặp một Hải Thiên tràn đầy sức sống. Hôm đó, ta không thể kiềm chế, ra lệnh cho Hải Thiên về nhà, về Trúc Ngâm Cư ngay lập tức. Ta không thể nhìn nó chịu khổ cực như vậy. Nhưng nó đã từ chối, nó nói: “Bác Tô, tuy bây giờ con chẳng có gì cả, nhưng ít nhất con vẫn có thể sống tự lập. Như vậy, con mới giữ được sự tôn nghiêm làm người. Nếu con đi theo bác, con sẽ trở thành một kẻ ăn bám đáng thương, không còn sự tôn nghiêm và nhân cách.” Hải Thiên coi nhân cách và sự tôn nghiêm còn quan trọng hơn mạng sống. Nó vốn là người cao ngạo từ cốt tủy, không khó khăn, gian khổ nào có thể đánh bại. Nhưng làm sao ta có thể khoanh tay đứng nhìn nó chịu khổ. Nó thậm chí còn gọi ta là “bác Tô” chứ không gọi là “bố”. Nó cố ý giữ khoảng cách với ta, nó không muốn làm liên lụy tới ta. Nhưng ta có thể bỏ mặc con trai của mình sao? Ta đã hét lên với nó: “Hải Thiên, con không thể ích kỷ như vậy, không thể vì một chút tôn nghiêm của con mà tàn nhẫn cướp đoạt tư cách làm cha của bố, con không có quyền cướp đi người con trai của bố!” Hải Thiên trầm mặc. Một lúc sau, nó nói bằng giọng bình tĩnh: “Đúng vậy, con đã cướp đi con trai của bác, vậy con sẽ trả lại cho bác một cô con gái. Liễu Địch xứng đáng làm con gái bác.”
“Thầy Chương...” Liễu Địch đau khổ gọi khẽ. Cuối cùng cô cũng hiểu tại sao Giáo sư Tô lại dặn cô đến Trúc Ngâm Cư, tại sao ông lại vội vàng đi tìm cô lúc cô mới nhập học, tại sao ông lại đối xử với cô tốt như vậy.
“Liễu Địch!” Giáo sư Tô nhận ra tâm tư của cô. “Ta đối xử tốt với con không chỉ vì Hải Thiên giao phó. Hải Thiên nói đúng, con xứng đáng làm con gái của ta. Chỉ sợ ta không xứng làm cha của con.”
Cảm giác như cả thế kỷ đã trôi qua, cuối cùng Liễu Địch cũng tỉnh lại từ cơn hôn mê.
Vừa mở mắt, cô liền nhiền thấy một thế giới toàn màu trắng, bức tường màu trắng, ga trải giường màu trắng, vỏ chăn màu trắng và cô y tá mặc bộ đồ màu trắng...
Ánh mắt cô hờ hững và vô thức lướt qua những thứ đó, sau đó dừng lại ở vợ chồng Giáo sư Tô đang đứng bên cạnh giường. Gương mặt họ chỉ sau một ngày mà già đi trông thấy, mỗi nếp nhăn tựa hồ khắc sâu nỗi đau đớn và bi thương. Nhưng ánh mắt họ thể hiện sự sốt ruột và mong chờ. Thấy Liễu Địch mở mắt, họ đồng thanh kêu lên: “Liễu Địch, con tỉnh rồi à?”
Liễu Địch rời mắt khỏi vợ chồng Giáo sư Tô, nhìn đi nơi khác một cách máy móc, tựa hồ không nghe thấy tiếng nói của họ. Hình như cô không ở thế giới này, mà đang ở một hành tinh xa xôi.
“Liễu Địch!” Bà Tô, hai mắt mọng đỏ, cúi người xuống thành giường, cất giọng lo lắng và sốt ruột. “Con... con không nhận ra chúng ta sao?”
Liễu Địch gật đầu, hai mắt đen láy, bờ môi trắng bệch.
“Ờ...” Bà Tô thở ra một hơi. “Vậy... con có muốn ăn gì không?”
Liễu Địch lắc đầu.
“Con có muốn ta tìm bác sĩ không? Hay là muốn ngủ một lát?”
Liễu Địch lại lắc đầu, cả cơ thể và ý thức dường như không thuộc về cô. Hiện tại, cô chỉ có khả năng duy nhất là gật đầu và lắc đầu.
“Liễu Địch!” Giáo sư Tô ở bên cạnh lên tiếng. “Con cần gì? Con mau nói chuyện đi! Nói một câu cũng được!”
Liễu Địch từ từ ngồi dậy, cố gắng nuốt nước bọt, động đậy bờ môi. Dưới ánh mắt căng thẳng và chờ đợi của vợ chồng Giáo sư Tô, cuối cùng cô khó nhọc thốt ra hai từ: “Con lạnh!”
Vợ chồng Giáo sư Tô ngẩn người. Trong phòng bật máy sưởi rất ấm, vậy mà Liễu Địch lại kêu lạnh. Giáo sư Tô nhẹ nhàng cầm tay Liễu Địch. Quả nhiên, bàn tay cô lạnh như cục đá.
Mùa xuân của sinh mệnh vẫn chưa đến vậy mà nó đã qua đi.
“Liễu Địch!” Giáo sư Tô hét lên. “Con làm sao vậy? Con đừng làm ta sợ!”
Liễu Địch không trả lời, cũng không nhúc nhích. Gương mặt trắng bệch của cô không có bất cứ biểu cảm nào, giống như cô đang đeo một tấm mặt nạ. Thần kinh của cô như đang chìm trong trạng thái tê liệt. Cô không còn chút sinh khí, giống như một hồn ma vật vờ, trôi dạt.
Giáo sư Tô hết sức đau lòng. Ông lặng lẽ nhìn gương mặt không còn sức sống của Liễu Địch mà không biết làm thế nào để khiến nỗi đau trong trái tim cô giảm bớt. Nỗi đau đó đến bất thình lình và dữ dội, khiến cả thế giới, tương lai, tình yêu và mộng ước của Liễu Địch vỡ vụn, khiến cô chỉ còn là cái xác không hồn. Liễu Địch bây giờ giống như một người không biết bơi bị rơi xuống nước, ban đầu còn vùng vẫy để ngoi lên mặt nước hít thở, nhưng sau đó dần chìm sâu xuống, đến ý thức cầu cứu, ý thức sinh tồn cũng biến mất.
“Liễu Địch!” Giáo sư Tô lại gọi tên cô. “Con tỉnh lại đi, tỉnh lại đi! Chúng ta đã ở bên con một ngày trời. Chúng ta không muốn thấy con như vậy.”
Liễu Địch vẫn không có phản ứng. Gương mặt cô đờ đẫn, ánh mắt vô hồn, bờ môi không chút sắc hồng. Cả người cô đều là màu xám, cả tâm hồn cũng màu xám.
“Liễu Địch!”Giáo sư Tô cắn môi. Ông biết việc cấp thiết nhất bây giờ là đánh thức ý thức đang mê man của Liễu Địch. Ông tính mạo hiểm một lần: “Liễu Địch, con còn nhớ buổi sáng hôm nay xảy ra chuyện gì không?”
Liễu Địch dường như bị chấn động, khóe miệng cô giật giật. Từ sáng đến giờ chỉ có hơn mười tiếng đồng hồ mà như mấy vạn năm trôi qua. Cô cúi đầu, trầm mặc không lên tiếng.
“Liễu Địch!” Khóe mắt Giáo sư Tô lấp lánh ánh lệ. Ông cố gắng đè nén nỗi đau xé lòng, không một chút lưu tình nói tiếp: “Hải Thiên của chúng ta, thầy Chương của con... đã không còn trên cõi đời này! Sáng nay con nhận được điện báo, con còn nhớ nội dung của tờ điện báo không?”
Liễu Địch rùng mình. Trong đầu cô vụt qua dòng chữ lạnh lùng và tàn nhẫn: “Chương Ngọc đã qua đời vì tai nạn giao thông, mau về gấp.”
Toàn thân run rẩy, Liễu Địch cắn chặt môi. Sau đó, cô giơ hai tay ôm đầu, bờ vai mảnh khảnh run bần bật, nhưng cô vẫn không mở miệng nói chuyện. Hiện thực quá tàn nhẫn, cô vô thức cự tuyệt tỉnh lại.
“Liễu Địch!” Cuối cùng Giáo sư Tô hét lên một tiếng đầy tuyệt vọng. “Con mau tỉnh lại đi! Ta đã mất một đứa con trai, ta không thể lại mất đi đứa con gái!”
Toàn thân Liễu Địch đột nhiên co giật. Cô đứng dậy, người lảo đảo. Bà Tô vội lao đến đỡ cô. Nhưng đúng lúc này, cổ họng Liễu Địch bỗng dâng lên vị ngòn ngọt, tựa hồ có thứ gì đó trào ra. Cô vừa há miệng, một ngụm máu từ miệng cô phun ra ngoài. Tấm ga trải giường trắng toát lập tức vấy đầy máu đỏ.
Giáo sư Tô hốt hoảng, ông cảm thấy không thể đứng vững được nữa. Ông ngồi phịch xuống giường, trong lòng hối hận vô cùng, ông không ngờ lại khiến Liễu Địch bị kích động đến mức thổ huyết. Trong khi đó, bà Tô hét lên: “Y tá! Y tá!”
Cô y tá chạy vội đến, cầm một mảnh vải lau vết máu trên miệng Liễu Địch. Liễu Địch gạt tay cô y tá. Cô ngẩng đầu, trên miệng vẫn còn vệt máu, đôi mắt đen mở to hết cỡ nhìn vợ chồng Giáo sư Tô chằm chằm. Sau đó, trên gương mặt cô dần xuất hiện chút biểu cảm, hơi thở dần gấp gáp, viền mắt ngân ngấn nước. Cuối cùng, Liễu Địch cũng bật khóc. Cô lao vào lòng Giáo sư Tô, vừa khóc vừa nói: “Giáo sư Tô, thầy Chương mất rồi! Thầy đã mất rồi...”
Ba ngày sau, Liễu Địch cùng Giáo sư Tô Văn ngồi tàu hỏa về quê.
Liễu Địch vẫn còn rất yếu. Chỉ trong ba ngày ngắn ngủi, cô đã gầy đi trông thấy, thần sắc vô cùng tiều tụy. Gương mặt cô trắng bệch, đôi mắt vừa to vừa đen, nhưng đáy mắt thể hiện quyết tâm bất chấp tất cả.
Bác sĩ khuyên Liễu Địch nên nằm một chỗ nghỉ ngơi, nhưng thái độ của cô rất kiên quyết, không ai có thể ngăn cản. Cô nói với vợ chồng Giáo sư Tô: “Thật ra bây giờ chúng ta trở về cũng đã quá muộn.” Một câu nói đánh gục hai ông bà. Thế là Giáo sư Tô mua vé tàu, cùng cô trở về quê.
Trên tàu hỏa, Liễu Địch ngồi bất động. Thân hình gầy guộc của cô lọt thỏm trong chiếc ghế rộng, tưởng như mỗi cơn gió từ ngoài cửa sổ thổi vào cũng có thể đẩy cô ngã. Liễu Địch mím chặt môi, nhìn ra ngoài cửa sổ như đang ngẫm nghĩ điều gì đó. Ba ngày nay, cô luôn chìm trong suy tư. Mỗi lần tàu hỏa lắc lư, bờ vai nhỏ bé của cô lại run rẩy.
“Giáo sư Tô!” Liễu Địch đột nhiên mở miệng, đây là câu nói đầu tiên của cô kể từ khi lên tàu. “Giáo sư thử nói xem, có đúng là thầy Chương gặp tai nạn giao thông không?”
Giáo sư Tô kinh ngạc nhìn Liễu Địch. “Sao thế, con nghi ngờ điều gì à?”
Liễu Địch gật đầu. “Thính lực của thầy Chương rất tốt, thầy có thể phân biệt tiếng động của các loại xe, có thể phán đoán chuẩn xác tốc độ của ô tô, chưa từng nhầm lẫn. Thầy qua đường vốn chẳng cần giúp đỡ. Thầy thường bị đánh bại bởi những vật tĩnh hơn.”
“Liễu Địch!” Giáo sư Tô nói. “Điều này không liên quan đến tai nạn giao thông. Phần lớn những người gặp tai nạn ô tô trên thế giới này đều không phải người mù.”
Đúng vậy, người mắt sáng còn bị xe đâm nữa là người khiếm thị. Nhưng những tiếng thì thầm to nhỏ, tiếng cười xấu xa và thái độ trầm mặc bất thường của thầy Chương luôn quanh quẩn trong đầu óc Liễu Địch. Điều này liệu có liên quan đến cái chết của thầy không?
Giáo sư Tô như nhận ra tâm tư của Liễu Địch, ông nói bằng giọng thành khẩn: “Liễu Địch, Hải Thiên là một đứa bé kiên cường. Nó rất yêu cuộc sống, yêu sinh mạng của mình. Nếu không phải là tai nạn, nó sẽ không dễ dàng từ bỏ việc đấu tranh chống lại số mệnh.”
Liễu Địch im lặng. Đúng vậy, cô biết rất rõ điều này. Tuy nhiên... cô không thể nghĩ tiếp. Nghĩ tới cố nhân khiến cô đau đớn đến không thở nổi. Dù sao khi trở về trường, tất cả sẽ rõ ràng. Liễu Địch từ bỏ việc suy đoán, lặng lẽ lắng nghe âm thanh đơn điệu của tàu hỏa. Cô nghe mãi, nghe mãi, âm thanh đó bỗng biến thành tiếng hát trầm ấm, chứa chan tình cảm của thầy Chương:
“Tôi ra đời vì sự ra đời,
Tôi chết đi vì cái chết,
Tôi ra đời vì cái chết,
Tôi chết đi vì sự ra đời.”
Rời nhà ga, Giáo sư Tô và Liễu Địch đi thẳng đến trường học.
Hiệu trưởng Cao đón họ ở cổng trường. Hai tháng không gặp, ông như già đi đến mười tuổi. Nhìn thấy Giáo sư Tô đỡ Liễu Địch từ từ tiến lại gần, hiệu trưởng Cao bước tới, nắm tay Liễu Địch, cất giọng đau xót: “Liễu Địch, thầy không thể giữ thầy Chương lại cho em.”
Liễu Địch không để ý đến hiệu trưởng Cao, thậm chí không nhìn ông. Ánh mắt cô dừng lại ở toàn nhà cũ kĩ phía bắc, ô cửa sổ nhỏ trên tầng bốn. Cô nhẹ nhàng rút tay ra khỏi tay Giáo sư Tô. Đột nhiên, cơ thể cô không còn mềm nhũn, hai chân cô không còn run rẩy. Cô từng bước tiến về phía trước, ánh mắt từ đầu đến cuối không rời khỏi ô cửa sổ nhỏ.
Sau đó, Liễu Địch đi tới chân cầu thang của tòa nha phía bắc. Bên cầu thang có một cậu bé khoảng mười sáu, mười bảy tuổi nhìn cô chăm chú. Liễu Địch không để ý, cô chỉ ngẩn ngơ dõi mắt lên cầu thang xập xệ. Tiếp theo, cô đột nhiên chạy lên cầu thang, chạy rất nhanh, thậm chí không bám vào tay vịn. Giáo sư Tô và hiệu trưởng Cao gọi cô, cô mặc kệ. Người ở bên cạnh kinh ngạc nhìn cô, cô cũng mặc kệ. Cô như quay về ba năm trước, lại là một nữ sinh bận rộn. Trong đầu cô chỉ có một ý nghĩ: “Nhanh lên, đừng để lỡ việc chấm bài của thầy Chương.”
Liễu Địch chạy một mạch lên tầng bốn, đến trước cửa văn phòng quen thuộc. Cô dừng bước, lau mồ hôi trên trán và điều hòa lại nhịp thở theo thói quen. Sau đó, cô giơ tay, gõ nhẹ lên cánh cửa một tiếng.
Bốn bề im lặng. Liễu Địch không nghe thấy giọng nói lạnh nhạt và lịch sự quen thuộc: “Mời vào!”
Cô lại gõ cửa, vẫn là sự tĩnh mịch đáng sợ.
Bàn tay Liễu Địch run run, đôi chân cô mềm nhũn, trái tim cô run rẩy. Cô không dám đẩy cánh cửa đó, không muốn đẩy chúng ra. Cô cố chấp gõ cửa lần thứ ba.
Xung quanh không một tiếng động, chỉ có sự yên tĩnh chết chóc. Hiệu trưởng Cao và Giáo sư Tô không biết đã đứng sau lưng Liễu Địch từ lúc nào. Họ trầm mặc chứng kiến cảnh tượng này, mắt ngấn nước.
Bàn tay Liễu Địch run rẩy. Cô đột nhiên nhớ đến buổi tối tuyết rơi, nhớ đến cảnh cô dò dẫm trong bóng đêm đến căn phòng này. Bây giờ, cô lại một lần nữa cảm thấy sự cô độc và nỗi sợ hãi đó. Không biết lấy đâu ra dũng khí, Liễu Địch đẩy cửa, bước vào phòng.
Căn phòng vẫn không thay đổi. Bàn làm việc, hai chiếc ghế đối diện nhau, bình giữ nhiệt, cốc trà bằng sứ màu trắng, lọ mực đỏ, chậu hoa nhài và một chồng vở bài tập xếp ngay ngắn. Tất cả vẫn không thay đổi, như thể ngày hôm qua Liễu Địch mới rời khỏi nơi này, hôm nay lại quay về. Tất cả không thay đổi, tất cả vẫn như cũ, chỉ là chủ nhân của căn phòng không còn nữa, thầy vĩnh viễn không thể quay về.
Liễu Địch đờ đẫn nhìn những đồ vật vô cùng quen thuộc, trong đầu cô đột nhiên xuất hiện câu thơ: “Vật thị nhân phi sự sự hưu, Dục ngữ lệ tiên lưu.[1]” Nhưng cô không thể thốt ra lời, cũng không thể rơi lệ, chỉ biết ngây ngốc đứng đó.
Dịch nghĩa: “Vật còn ở đó, người ở nơi đâu. Muốn nói mà dòng lệ tuôn trào.” Trích trong bài Vũ Lăng xuân của Lý Thanh Chiếu, đời Tống.
Sau đó, Liễu Địch tìm một mảnh vải, cô bắt đầu lau bụi trên bàn làm việc. Bàn làm việc phủ một lớp bụi mỏng, có lẽ ba, bốn ngày không ai động đến nó. Lau bàn xong, Liễu Địch lại lau chùi ghế ngồi, lau cốc trà, bình giữ nhiệt... Cô lau chùi rất tỉ mỉ, như thầy Chương vẫn còn ở văn phòng, thầy chỉ đi ra ngoài một lát, sẽ trở về ngay lập tức.
Hiệu trưởng Cao và Giáo sư Tô ở bên cạnh, nước mắt giàn giụa. Giáo sư Tô đột nhiên bước tới, nắm tay Liễu Địch. “Liễu Địch, con hãy khóc đi! Khóc một trận đi con!”
Liễu Địch không khóc, nước mắt cô đã cạn. Cô giật khỏi tay Giáo sư Tô, đi lau cửa sổ. Những việc này cô làm suốt ba năm, đã trở thành thói quen. Sau đó, cô chú ý đến chậu hoa nhài trên bệ cửa sổ. Hoa nhài không được tươi tốt, lá đã héo úa. Liễu Địch đột nhiên nghe thấy giọng nói trầm ấm, chua xót thấp thoáng bên tai: “Những ngày tháng sau này, chỉ nó nó ở bên cạnh tôi.”
Liễu Địch giật mình, bỗng kêu lên một tiếng: “Thầy Chương, thầy ở đâu?” Không, không có thầy Chương, đây chỉ là ảo giác của cô mà thôi. Hoa nhài à, mày có biết không, người cần mày ở bên cạnh đã ra đi trước mày. Có phải vì thế mày mới héo úa? Liễu Địch đột nhiên cảm thấy sống mũi cay cay, cảm xúc tê liệt đã bắt đầu hồi sinh. Cô nhìn chậu hoa nhài chăm chú, đột nhiên phát hiện, trên cành cây yếu ớt, khẳng khiu xuất hiện một nụ hoa trắng.
Phát hiện này mang đến một sức mạnh to lớn, làm chấn động sợi dây thần kinh tê liệt của Liễu Địch. Hoa nhài nở hoa vào tháng Mười một, lẽ nào hoa nhài cũng là sinh vật có tình, nó đang dùng màu trắng thuần khiết để tưởng nhớ thầy Chương?
Liễu Địch cảm thấy trái tim cô vỡ vụn. Thầy Chương đã đi thật rồi, đi thật rồi! Ba ngày qua, mặc dù biết rõ sự thật nhưng tiềm thức của cô vẫn kháng cự. Cô hy vọng xuất hiện kỳ tích, nói cho cô biết tất cả không phải sự thật. Tuy nhiên kỳ tích không xuất hiện. Đến lúc này, cô mới tin và chấp nhận sự thật. Trái tim cô và mỗi tế bào trên người cô đều đau đớn vô ngần, mặt cô giàn giụa nước mắt.
Cuối cùng, Liễu Địch ôm chậu hoa nhài, bật khóc nức nở. Tiếng khóc của cô như xé nát tâm can. Mọi nỗi đau đớn và bi thương tích tụ trong ba ngày giờ bộc phát theo tiếng khóc của cô.
Giáo sư Tô và hiệu trưởng Cao lặng lẽ khóc cùng Liễu Địch. Mấy ngày nay, trong lòng họ cũng tích tụ quá nhiều đau khổ. Họ cũng cần dùng tiếng khóc để giải tỏa tâm trạng của mình.
Một lúc lâu sau, tiếng khóc của Liễu Địch nhỏ dần rồi tắt hẳn. Cô ngẩng đầu, phát hiện đầu óc mình đã tỉnh tảo hơn nhiều. Trái tim cô vẫn đau đớn nhưng lý trí bị đau thương vùi lấp đã từ từ quay trở lại. Cô lại một lần nữa quan sát chậu hoa nhài vừa đánh thức lý trí của cô. Liễu Địch đột nhiên phát hiện, cây hoa đã được thay chậu khác. Chậu đất sét trước kia được thay bằng chậu cao lanh. Không, không thể, tuyệt đối không thể! Cây hoa nhài héo úa đến mức này, trừ khi... Liễu Địch lập tức chạy đến trước mặt hiệu trưởng Cao, cất giọng nghiêm túc: “Thầy mau nói cho em biết, thầy Chương qua đời như thế nào?”
Mặt hiệu trưởng Cao biến sắc trong giây lát, ông trả lời: “Thầy Chương đúng là chết vì tai nạn giao thông, đó là sự thật!”
“Em không tin!” Liễu Địch cười nhạt. “Trước khi xảy ra tai nạn thì sao? Lẽ nào thầy Chương không gặp phải chuyện gì?”
“Điều này...” Sắc mặt hiệu trưởng Cao càng tái nhợt. Ông nói ấp úng: “Thầy Chương chết vì tai nạn giao thông... Sự việc không liên quan đến người khác...”
“Không đúng, cái chết của thầy Chương không những liên quan đến người khác, mà còn có quan hệ rất lớn!” Một giọng nói lanh lảnh từ bên ngoài vọng vào, ngân vang trong căn phòng nhỏ.
Ba người giật mình kinh ngạc, cùng quay đầu về phía cửa phòng. Một cậu bé tầm mười sáu, mười bảy tuổi từ bên ngoài đi vào. Cậu bé tương đối cao, gương mặt đỏ ửng, mở to mắt quan sát từng người trong phòng. Ánh mắt cậu thẳng thắn và rắn rỏi.
Liễu Địch nhìn cậu bé không chớp mắt, cô cảm thấy cậu ta nhìn có vẻ quen quen. Cậu bé chú ý ánh mắt của Liễu Địch nên lên tiếng trước: “Em biết chị chính là Liễu Địch. Vừa rồi em đã nhìn thấy chị khi chị đi lên cầu thang, vì thế em đi theo chị lên đây.”
Đúng rồi, ban nãy khi Liễu Địch chạy lên cầu thang, có một cậu bé cứ nhìn cô chằm chằm, hóa ra là cậu ta. Nhưng cậu ta là ai? Không đợi Liễu Địch lên tiếng, hiệu trưởng Cao nghiêm giọng nói: “Văn Tuấn, em lên đây làm gì?”
Văn Tuấn không bận tâm đến lời của hiệu trưởng Cao, cậu nói với Liễu Địch: “Em xin tự giới thiệu. Em tên là Văn Tuấn, học sinh lớp 10-1, cũng là người đại diện của thầy Chương. Một ngày trước khi thầy Chương qua đời và buổi sáng hôm thầy qua đời, em đều ở bên cạnh thầy, tận mắt chứng kiến nhiều chuyện. Em vốn không định nói cho chị biết, nhưng nhìn thấy cảnh vừa rồi, em nghĩ chị có quyền biết những sự việc này. Chị có muốn nghe không?”
Người đại diện? Liễu Địch ngẩn người. Thời gian trước, từ này là cách xưng hô thuộc về cô. Cô liếc qua hiệu trưởng Cao, ánh mắt ông đầy vẻ lo lắng và tự trách. Lẽ nào... Liễu Địch mím môi, nói với Văn Tuấn: “Chỉ cần là sự thật, dù tàn khốc đến thế nào, chị cũng muốn nghe.”
Văn Tuấn nhíu mày nhìn Liễu Địch, ánh mắt cậu vụt qua một tia khâm phục. Sau đó cậu bắt đầu kể: “Đầu tiên, em xin nói rõ, em không thích thầy Chương. Cũng giống như các bạn trong lớp, em chỉ thích nghe thầy giảng bài chứ không thích con người thầy. Chúng em cũng muốn yêu quý thầy, nhưng thầy khiến chúng em không yêu quý nổi. Hơn nữa, em phát hiện thầy cũng không thích em. Thầy không cho em đón thầy sau khi tan học, không cho em tiễn thầy ra bến xe buýt. Thầy chỉ cho phép em giúp thầy làm công việc nhận xét và chấm điểm bài văn vào buổi trưa. Em nghĩ, nếu không phải vì bất đắc dĩ, chắc thầy cũng không để em làm việc này. Mỗi buổi trưa tới giúp thầy chấm bài, quả thật dùng từ “ngồi trên đống lửa” cũng không quá đáng. Bởi em cảm nhận rõ thầy không thích em ngồi vào chiếc ghế kia, thậm chí không thích em ở trong căn phòng này. Vì vậy, việc chấm bài văn đối với em là một cực hình. Thứ duy nhất thầy thích có lẽ chỉ là chậu hoa nhài trên bệ cửa sổ. Em thường thấy thầy dò dẫm đi lấy nước về tưới cho cây hoa. Mặc dù tưới ra ngoài một nửa nhưng thầy vẫn không cho người khác giúp thầy. Mọi người đều nói, thầy thích chậu hoa nhài là bởi chậu hoa đó do chị tặng thầy.”
Liễu Địch không lên tiếng, cô biết đây là sự thật. Đáng sợ hơn, mọi người cũng biết rõ sự thật này. Liễu Địch chợt cảm thấy toàn thân mất hết sức lực. Giáo sư Tô liền đỡ cô ngồi xuống ghế.
“Tin đồn giữa chị và thầy Chương...” Văn Tuấn liếc cô một cái rồi nói tiếp: “...đã ầm ĩ từ lâu, không ai là không biết. Mọi người đều bàn tán sôi nổi, đa phần là những lời khó nghe. Xin thứ lỗi em không thể kể ra lời đồn ở đây, bởi sau khi chứng kiến cảnh tượng vừa rồi, em cảm thấy những tin đồn đó hoàn toàn vô căn cứ. Nhưng lúc đó chúng em không có năng lực phán đoán, ai nấy đều nửa tin nửa ngờ. Hơn nữa, nhiều thầy cô cũng khẳng định, nên chúng em không thể không tin. Nói thật, thanh danh của chị và thầy Chương chẳng ra sao cả. Tuy nhiên, thầy Chương không hề hay biết điều đó. Thứ nhất, bởi thầy không tiếp xúc với mọi người. Thứ hai, thầy thanh cao như vậy, ai dám nói năng linh tinh trước mặt thầy? Mọi người chỉ bàn luận chuyện của chị và thầy sau lưng thầy. Họ nói chị và thầy rất kinh khủng.”
Liễu Địch cuộn chặt hai bàn tay lại. Tình cảm giữa cô và thầy Chương thuần khiết như vậy, trong mắt người khác nó biến thành cái gì? Khó nghe như thế nào? Kinh khủng ra sao? Cô không dám hỏi, cũng không muốn hỏi. Trong giây phút này, cô nhận ra con người là loài động vật vô cùng tàn nhẫn.
Văn Tuấn thở dài rồi nói tiếp: “Sự việc xảy ra vào tiết ngữ văn sáng thứ Sáu. Sau khi trả vở bài tập làm văn cho cả lớp, Khiên Khiên phát hiện ra bài văn của cậu ta bị thầy Chương cho 0 điểm...”
“Khiên Khiên là ai?” Liễu Địch hỏi.
“Cậu ta ngồi cùng bàn với em, là con gái của chủ nhiệm Ủy ban Giáo dục thành phố, đứa con cưng của nhà trường, bảo bối của các thầy cô giáo, cô công chúa nhỏ không ai dám động vào.” Văn Tuấn nói một hơi rồi liếc qua hiệu trưởng Cao. Xem ra, nữ sinh tên Khiên Khiên không được lòng các bạn.
“Em đã đọc bài văn của Khiên Khiên.” Văn Tuấn nói tiếp. “Thầy Chương chỉ nghe đoạn mở đầu liền cho 0 điểm. Hơn nữa, thầy còn phê năm chữ: “Đạo văn đáng xấu hổ.” Nghe nói thời cấp hai, môn Ngữ Văn của Khiên Khiên luôn đạt điểm rất cao. Lên cấp ba, gặp phải thầy Chương, không những điểm số của cậu ta rớt xuống, mà còn chưa bao giờ nhận được lời khen ngợi, cậu ta bất mãn với thầy Chương đã lâu. Bây giờ, thầy Chương còn cho cậu ta “0 điểm”, lại nói cậu ta “đáng xấu hổ”. Đây là điều Khiên Khiên không thể chịu đựng nổi. Cậu ta cầm bài văn, đi tìm thầy Chương lý luận, bắt thầy Chương đưa chứng cứ, bằng không, điều đó có nghĩa là thầy đặt điều, hủy hoại danh dự của cậu ta. Thầy Chương bị ép buộc, cuối cùng cũng nói ra tác giả của bài viết, thậm chí cả thời gian đăng bài đó. Em không nhớ rõ, hình như bài viết đăng trên một cuốn tạp chí từ mấy năm trước. Tên tác giả... À đúng rồi, tên là Hải Thiên.”
“Trời ạ!” Liễu Địch và Giáo sư Tô đồng thanh kêu lên. Văn Tuấn nhìn họ bằng ánh mắt kỳ lạ, không hiểu tại sao họ lại kinh ngạc như vậy. Nhưng cậu không thắc mắc, mà kể tiếp: “Tóm lại, lúc đó Khiên Khiên chỉ biết há hốc miệng. Chứng cứ của thầy Chương khiến cậu ta á khẩu. Từ lúc vào trường, cậu ta được các thầy cô giáo coi như viên ngọc trên tay, chưa bao giờ phải chịu đựng sự xỉ nhục như vậy. Thế là cậu ta thẹn quá hóa giận, đột nhiên thốt ra một cậu: “Thầy Chương, thầy chỉ bắt nạt những người như chúng em mà thôi. Nếu Liễu Địch làm vậy, liệu thầy có cho chị ta điểm 0 không?”
Liễu Địch giật mình thảng thốt.
“Sắc mặt thầy Chương tái nhợt. Thầy cuộn hai bàn tay lại, mím chặt môi, cố gắng kiềm chế. Sau đó, thầy bình tĩnh trả lời: “Cô ấy cũng từng bị tôi cho 0 điểm bài làm văn.” Mọi người đều đờ người. Chẳng ai nghĩ ra nguyên nhân tại sao bài văn của chị lại bị thầy Chương cho 0 điểm. Khiên Khiên một lần nữa cảm thấy thất bại. Cậu ta chợt bướng bỉnh hét lên: “Nhưng thầy từng dụ dỗ chị ta!”...”
Ầm một tiếng, nắm đấm của Liễu Địch đập mạnh xuống mặt bàn. Cô không thể chịu đựng sự xỉ nhục từ câu nói này. Người cô lảo đảo, tựa hồ sắp ngã. Giáo sư Tô vội đỡ cô từ phía sau. Văn Tuấn giật mình, cậu hết nhìn Liễu Địch lại nhìn Giáo sư Tô, không biết có nên kể tiếp. Liễu Địch định thần, mặt cô cắt không còn giọt máu. Nhưng cô cất giọng kiên quyết: “Em kể tiếp đi!”
“Cậu ta vừa nói câu đó, cả lớp chúng em đều sửng sốt. Nhưng Khiên Khiên cứ như bị ma nhập, tiếp tục hét lớn: “Thầy Chương, thầy bị mù thật sao? Thầy bị mù mà thầy biết nữ sinh nào xinh đẹp nhất trường, sau đó thầy cho người ta làm đại diện của thầy rồi quyến rũ người ta. Hai người ở trong văn phòng đóng chặt cửa tình tình tứ tứ, ôm ôm ấp ấp ở bến xe, ở nhà thầy càng không biết làm ra chuyện bẩn thỉu gì. Thầy tưởng thầy có thể che mắt thiên hạ hay sao? Lẽ nào thiên hạ cũng đui mù giống thầy? Là một nhà giáo, vậy mà thầy đi dụ dỗ học sinh. Thầy có tư cách gì mà đứng ở đây nói tôi “đáng xấu hổ”? Thật ra, kẻ đáng xấu hổ nhất là thầy và Liễu Địch. Thầy và chị ta, một người dụ dỗ mê hoặc, một người tự nguyện lao vào vòng tay của thầy giáo mình; một kẻ hạ lưu đê tiện, còn một kẻ vô liêm sỉ; một kẻ ra vẻ đạo mạo, còn một kẻ giả vờ đứng đắn...” Sau đó, một tiếng “bốp” vang lên, thầy Chương cho Khiên Khiên một bạt tai!”
“Tát rất đúng!” Giáo sư Tô lên tiếng. Nếu Khiên khiên có mặt ở đây, chắc ông cũng lập tức cho con bé một bạt tai. Liễu Địch không lên tiếng, sắc mặt cô trắng bệch đến đáng sợ, cô cảm thấy nghẹt thở. Những lời vô căn cứ này tại sao có thể lan truyền, sao có thể nói ra một cách tàn nhẫn như vậy?
Văn Tuấn nhìn Liễu Địch bằng ánh mắt đồng tình. “Liễu Địch, chị đừng tức giận. Thật ra, những lời này sớm muộn cũng có người nói, Khiên Khiên chỉ là người đầu tiên dám thốt ra miệng mà thôi.”
Liễu Địch rùng mình, cô cảm thấy khí lạnh lan tỏa tới mỗi tế bào trên thân thể. Cô đột nhiên hiểu ra, tình cảm của cô và thầy Chương không được xã hội thừa nhận, thậm chí còn bị bóp méo, xuyên tạc và phỉ báng. Lúc cô vẫn chưa ý thức được tình yêu, dư luận đã hủy diệt tình cảm của cô. Đến lúc này, Liễu Địch thật sự lĩnh ngộ mặt tàn khốc của xã hội.
Văn Tuấn thở dài, tiếp tục câu chuyện: “Cái bạt tai của thầy Chương vừa mạnh vừa chuẩn xác, khiến một bên má Khiên Khiên sưng vù. Lần đầu tiên em chứng kiến bộ dạng phẫn nộ của thầy. Sắc mặt thầy đanh lại, hơi thở gấp gáp, giống như một con bò đực bị chọc giận. Thầy nghiến răng nói từng từ: “Trước khi tôi cho em cái tát thứ hai, em mau cút xéo khỏi phòng học này!” Thầy Chương không nói nhiều, nhưng mỗi từ như phun ra ngọn lửa, mang uy lực có thể thiêu cháy tất cả. Khiên Khiên sững sờ, cậu ta không ngờ mình lại bị đánh. Một lúc sau, cậu ta mới có phản ứng. Nhưng đứng trước thầy Chương đang nổi giận, cậu ta không dám mắng thêm một câu. Cuối cùng, cậu ta gào khóc: “Chương Ngọc, thầy cứ đợi đấy!” Nói xong, cậu ta chạy ra khỏi phòng học. Có thể tưởng tượng chuyện Khiên Khiên bị thầy Chương đánh nhanh chóng lan ra toàn trường. Buổi trưa, em đến văn phòng thầy Chương sớm hơn thường lệ. Không hiểu tại sao em thấy hơi lo lắng cho thầy. Em biết câu “thầy cứ đợi đấy” của Khiên Khiên không phải nói chơi, còn tại sao cậu ta không phải nói chơi, bản thân em cũng không rõ. Thầy Chương không giống như mọi ngày, thầy không phải sợ hãi, mà có nhiều tâm sự, tựa hồ có gánh nặng trong lòng. Thầy không chấm điểm bài tập làm văn ngay mà ngồi trầm tư rất lâu. Sau đó, thầy đột nhiên hỏi em: “Văn Tuấn, em hãy nói thật cho thầy biết, tin đồn về thầy mà Khiên Khiên nói ngày hôm nay có phải đã lưu truyền một thời gian dài rồi không?” Em không ngờ thầy Chương lại tinh ý như vậy. Em chẳng có cách nào che giấu thầy, cũng không dám giấu giếm, đành nói sự thật: “Vâng ạ, lúc mới nhập học, em có nghe phong thanh một số chuyện, bây giờ đã lan truyền khắp trường, hơn nữa còn rất khó nghe.” Thầy Chương khẽ gật đầu, sắc mặt thầy nặng nề, tựa hồ lời của em chứng thực suy nghĩ trong lòng thầy. Sau đó, em và thầy bắt đầu chấm bài. Một điều khiến em rất khâm phục là, dù xảy ra chuyện lớn nhưng thầy Chương vẫn bình tĩnh nhận xét bài văn, như không hề bị ảnh hưởng. Tuy em không thích thầy nhưng không thể không kính phục dũng khí của thầy. Chấm đến quyển bài tập thứ ba, cửa văn phòng đột nhiên bị đá bật ra. Khiên Khiên và anh họ của cậu ra xuất hiện ở cửa. Anh họ của Khiên Khiên là huấn luyện viên tán thủ[1] của thành phố. Anh ta vừa xuất hiện, em biết ngay nguyên nhân vì sao. Quả nhiên, anh họ của Khiên Khiên nói: “Chương Ngọc, thằng chó, mày dám đánh em tao, mày không muốn sống phải không? Mày dám giở trò trên đầu ông nội mày. Hôm nay nếu không dạy dỗ mày, mày sẽ không biết tao là ai!” Thầy Chương liền đứng dậy. Em rất kinh ngạc khi thấy thầy không hề sợ hãi khi đối mặt với hoàn cảnh đó. Thầy đứng thẳng người, ngẩng cao đầu, cất giọng đanh thép: “Không sai, tôi đã đánh em gái của em. Là một giáo viên, tôi không nên đánh học sinh của mình, nhưng là một người có máu có thịt, tôi phải đánh em gái anh, bởi em gái anh đã lăng nhục nhân cách của tôi, đồng thời lăng nhục nhân cách và danh dự của học sinh tôi yêu quý nhất. Kẻ sĩ có thể chết, chứ không thể chịu nhục. Tôi không thể tha thứ cho người sỉ nhục tôi, càng không thể tha thứ cho người sỉ nhục học sinh của tôi. Nếu anh đánh tôi, tôi sẽ không đánh lại, bởi là một thầy giáo, tôi nên chịu sự trừng phạt. Có điều, tôi nói cho anh biết, anh đánh tôi, tôi không oán hận; tôi đánh em gái anh, tôi cũng không hối hận. Nếu anh lăng nhục tôi và học sinh của tôi, dù không phải là đối thủ của anh, tôi cũng sẽ động thủ với anh.”
[1] Môn võ tay không tự do ra đời ở Trung Quốc, chú trọng vào các dạng chiến đấu tự do thực tế.
“Nói hay lắm!” Liễu Địch và Giáo sư Tô cùng kêu lên. Giọng của hai người rất khẽ nhưng không che giấu niềm tự hào. Văn Tuấn liếc nhìn họ, đột nhiên phát hiện hai người trước mặt rất tán thưởng thầy Chương, người không được cả trường hoan nghênh. Cậu ta nói tiếp: “Đúng vậy. Lúc đó, em cũng bị chấn động, thậm chí quên cả sợ hãi. Em chợt cảm thấy thầy Chương có sức mạnh tinh thần rất hiếm gặp, điều đó khiến em cảm động. Anh họ của Khiên Khiên dường như cũng bị chí khí đường đường chính chính của thầy Chương làm cho khiếp sợ. Anh ta lặng lẽ nhìn thầy Chương vài giây rồi quay người rời khỏi văn phòng. Khiên Khiên vô cùng thất vọng, cậu ta vừa chạy đuổi theo vừa hét: “Anh, anh đã nhận lời trả thù của em. Anh đã nhận lời…”
Văn phòng lại rời vào trạng thái tĩnh lặng. Một lúc sau, em và thầy Chương đều không lên tiếng. Sắc mặt thầy vô cùng nghiêm nghị, ngoài ra còn có vẻ lo lắng và đau khổ. Thầy đột nhiên nói với em: “Văn Tuấn, hôm nay không cần chấm điểm nữa. Chỗ tôi bây giờ không còn là nơi an toàn.”
Em đột nhiên thấy rất cảm động. Có thể nói, kể từ khi làm người đại diện của thầy, đây là lần đầu tiên em cảm nhận được sự ấm áp từ thầy. Thầy đang quan tâm đến sự an nguy của em. Em cảm kích nhìn thầy rồi đi ra ngoài…”
“Sao em lại đi ra ngoài?” Liễu Địch hỏi. Nếu là cô, cô nhất định quyết không bỏ đi. Dù thầy Chương có cầm gậy đuổi, cô cũng không đi.
“Tất nhiên là em đi ra ngoài rồi. Em không phải là chị, không có tình cảm sâu nặng với thầy như chị. Nhưng lúc đó, đúng là em rất cảm động, em thấy thầy Chương không đáng ghét như trước, thậm chí bắt đầu quan tâm đến thầy. Trên sân trường tụ tập khá đông học sinh, các bạn đều bàn luận chuyện xảy ra ban sáng. Không hiểu sao bấy giờ em lại thấy phản cảm với những tin đồn mà em không mảy may nghi ngờ trước đó. Em bắt đầu hoài nghi, em nghĩ thầy Chương có thể nói ra những lời đầy khí phách như vậy, chứng tỏ quan hệ giữa thầy và chị không như tin đồn. Đáng tiếc, chỉ một mình em nghe thấy những lời nói của thầy. Em đột nhiên thấy bất an. Cảm giác này khiến em không thể tập trung vào tiết học buổi chiều. Vì vậy, sau tiết thứ nhất, em chạy vội đến văn phòng hiệu trưởng, định kể chuyện xảy ra với hiệu trưởng Cao. Nói thật, em lo thầy Chương chịu thiệt thòi.
Nhưng vừa đến cửa văn phòng, em vô tình nghe thấy hiệu trưởng Cao đang tranh cãi với một người đàn ông. Em nghe thấy người đó nói bằng giọng kích động: “Dù thế nào, thầy giáo đánh học sinh cũng là hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp, vi phạm pháp luật. Hơn nữa, dựa vào tình hình sức khỏe và học vấn của hắn, hắn không có tư cách dạy học, dù là giáo viên dạy thay cũng không đủ tư cách. Tôi thật sự không ngờ anh lợi dụng chức quyền, để một tên lưu manh dạy học ở trường này. Đúng là khôi hài, hoang đường thật đấy!” Sau đó, em nghe hiệu trưởng Cao nói: “Nhưng thầy Chương dạy rất tốt, thành tích thi đại học của khóa trước…” Hiệu trưởng Cao nói chưa hết câu, người kia đã cắt ngang: “Tôi nói cho anh biết, tên Chương Ngọc này phải cuốn xéo ngay. Hắn vốn không có tư cách đứng trên bục giảng, để hắn dạy học ba năm là quá nể hắn rồi.”Em không khỏi giật mình. Đuổi thầy Chương khỏi trường ư? Đây là điều không thể, không chỉ mình em không đồng ý, đa số các bạn trong lớp cũng sẽ không đồng ý. Chúng em rất thích bài giảng của thầy Chương, thầy giảng bài rất hấp dẫn và sinh động. Nếu từ nay về sau không được nghe thầy giảng bài, đó là điều em không thể tưởng tượng nổi. Lần đầu tiên trong đời em cảm thấy chúng em không thể mất thầy Chương, thầy rất quan trọng đối với chúng em. Em nhìn qua khe cửa mới biết, người đang nói chuyện với hiệu trưởng Cao là bố của Khiên Khiên.
Bên bờ hồ Vị Danh, liễu rủ, những cây hòe, bạch quả trải đầy lá vàng trên lối đi. Những cây phong trên hòn đảo nhỏ giữa hồ rực sắc đỏ. Yến Viên ngập chìm trong cảnh sắc cuối thu.
Một buổi chiều trời mây quang đãng, gió thổi mát lạnh, ánh nắng dịu dàng tràn ngập khắp không gian, Liễu Địch lần đầu tiên rời khỏi cánh cổng trường Bắc Đại kể từ khi nhập học.
Đi khỏi trường làm gì? Liễu Địch không biết. Có lẽ cô muốn xem thế giới ở bên ngoài Bắc Đại. Hai tháng nay, cô chìm đắm trong cuộc sống của một sinh viên đại học, gần như quên mất bên ngoài bờ tưởng của Yến Viên là một thế giới rộng lớn hơn.
Hôm nay là thứ Sáu, ngày thanh thản nhất trong tuần. Thời tiết rất tuyệt, trời xanh mây trắng, làn gió thu mát rượi, ánh nắng chan hòa, Liễu Địch tựa hồ nghe thấy một tiếng gọi nào đó trong tiềm thức. Thế là cô vô thức đi khỏi khuôn viên của Bắc Đại.
Rời khỏi cánh cổng phía tây của Yến Viên cổ kính, Liễu Địch cảm thấy như mình được trở về một thế giới xa cách đã lâu. Trên đường phố rộng lớn, xe cộ qua lại như mắc cửi, hai bên đường đều là những tòa nhà cao tầng, người đi lại tấp nập. Đây vốn là cuộc sống đô thị quen thuộc với Liễu Địch, nhưng hôm nay, cô chợt cảm thấy nó có phần xa lạ. Giống như ở trong tháp ngà quá lâu, Liễu Địch lãng quên mọi thứ ở bên ngoài tòa tháp.
Liễu Địch chậm rãi đi trên vỉa hè trong cảm giác như cách một thế kỉ. Không biết sau bao lâu, cũng không rõ đã đi đến chỗ nào, Liễu Địch chợt phát hiện trước mặt cô là một trạm xe buýt. Bến xe? Từ này chạm đến sợi dây nào đó từ đáy sâu tâm hồn Liễu Địch, đánh thức hình bóng chôn sâu trong ký ức của cô. Bến xe buýt ở Bắc Kinh lớn gấp mấy lần ở quê nhà. Ở đây có mái che, có ghế ngồi đàng hoàng. Liễu Địch ngơ ngẩn ngồi xuống ghế, ý thức của cô vẫn mơ hồ. Bên cạnh bến xe là cây hòe cổ thụ, lá vàng rơi đầy trên mặt đất. Là cây hòe chứ không phải cây dương liễu.
Liễu Địch ngó xung quanh như muốn tìm kiếm điều gì đó. Một trận gió thổi qua, lá hòe bay xuống, rơi cả vào lòng Liễu Địch. Liễu Địch lặng lẽ cầm một chiếc lá, đưa lên mũi ngửi. Chiếc lá tuy đã ngả màu vàng nhưng vẫn thoang thoảng mùi hương. Khi chiếc lá chạm vào đầu mũi, Liễu Địch còn có cảm giác ấm áp. Đột nhiên, cô như nghe thấy một giọng nói trầm ấm vang lên bên tai: “Mỗi chiếc lá rụng đều có mùi của mặt trời.”
Liễu Địch đứng bật dậy theo phản xạ, cô buột miệng gọi tên một người đã lâu không nhắc tới: “Thầy Chương!” Cô hốt hoảng quan sát xung quanh. Không, ở đây không có thầy Chương, chỉ có mấy người đang đợi xe buýt nhìn cô bằng ánh mắt kỳ lạ. Trong một khoảnh khắc, Liễu Địch không nhìn rõ rốt cuộc cô đang ở đâu. Ý thức của cô lại chìm vào hư vô mờ mịt. Nơi sâu thẳm trong tâm hồn cô có thứ gì đó đang vẫy gọi, ngày càng mãnh liệt, rõ ràng. Liễu Địch cảm thẩy một tình cảm ẩn giấu trong tâm hồn cô đang sống lại, nảy mầm và lớn lên. Liễu Địch như có thể chạm vào tình cảm đó, nhưng cô không thể nói rõ đó rốt cuộc là gì. Cô vô thức rời khỏi bến xe, vô thức quay lại cánh cổng phía tây của Yến Viên. Cô không biết mình đang đi đâu, cô chỉ bước những bước mơ hồ theo tiếng gọi từ đáy sâu tâm hồn.
Cứ như vậy, Liễu Địch vô thức đi xuyên qua Yến Nam Viên, đến thẳng khu vực có sáu toà nhà hành chính theo kiểu Trung – Tây kết hợp. Đây là văn phòng của các khoa trong trường. Liễu Địch dừng lại trước một tòa nhà. Cô ngước nhìn ngồi nhà toát lên vẻ cổ điển trong kiến trúc phương Tây. Trong lúc ngẩn ngơ, Liễu Địch dường như cảm thấy mình đang đứng trước tòa nhà phía bắc cũ kĩ của ngôi trường cấp ba, trong lòng đột nhiên trào dâng một sự xúc động khó diễn tả. Liễu Địch không suy nghĩ, lập tức chạy vào cầu thang của tòa nhà, lên thẳng tầng bốn. Cô như quay trở lại những năm tháng trước đây. Ba năm liền, ngày nào cô cũng chạy lên cầu thang như lúc này.
Đến một văn phòng nhỏ nằm ở cuối hành lang trên tầng bốn, Liễu Địch thở hổn hển. Cô lau mồ hôi trên trán, điều hòa nhịp thở theo thói quen rồi giơ tay, chuẩn bị gõ cửa. Cánh cửa đột nhiên mở ra. Liễu Địch giật mình... Đây không phải sự việc trong trí nhớ quen thuộc của cô. Một người đàn ông trung niên từ văn phòng đi ra. Ông nhìn Liễu Địch bằng ánh mắt nghi hoặc, lên tiếng hỏi: “Bạn sinh viên, em đến đây làm gì?”
Mình đến đây làm gì nhỉ? Liễu Địch tự hỏi. Cô ngẩng đầu nhìn tấm biển treo trên cửa: Văn phòng khoa Trung văn. Mình đến văn phòng khoa Trung văn làm gì? Làm gì nhỉ? Liễu Địch hoang mang tự hỏi.
Bắt gặp bộ dạng hồn bay phách lạc của Liễu Địch, người đàn ông trung niên thấy không yên tâm, lại hỏi: “Em muốn tìm thầy cô nào phải không?”
Tìm thầy cô nào? Liễu Địch bừng tỉnh. Đúng rồi, cô muốn tìm một thầy giáo, người thầy trong lòng cô, người thầy mãi mãi tồn tại trong ký ức của cô. Mọi ký ức bị lãng quên được thức tỉnh trong tích tắc, mọi tình cảm bị phong kín hồi sinh trong tích tắc. Liễu Địch lại nghe thấy tiếng gọi từ đáy sâu tâm hồn mình. Lúc này, nó trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết, không ngừng vang lên bên tai cô: “Đi tìm thầy Chương! Đi tìm thầy Chương!”
Liễu Địch lập tức quay người, chạy khỏi tòa nhà văn phòng. Cô vừa chạy vừa sốt ruột tìm kiếm. Cuối cùng, cô cũng tìm thấy một bốt điện thoại công cộng. Cô lao đến, nhấc ống nghe, nhét thẻ từ rồi bấm một dãy số.
Điện thoại được kết nối, Liễu Địch nghe thấy một giọng nói già nua: “Xin hỏi muốn tìm ai?”
Là giọng nói quen thuộc của ông Lý. Liễu Địch liền hét vào ống nghe: “Ông Lý, cháu là Liễu Địch! Cháu muốn tìm thầy Chương, cháu tìm thầy Chương Ngọc!”
“Cháu... cháu tìm thầy Chương Ngọc sao?” Ông Lý có vẻ không tiện lên tiếng.
“Vâng ạ! Cháu muốn tìm thầy ấy! Cháu muốn nói chuyện với thầy bây giờ, cháu muốn nghe thấy giọng nói của thầy bây giờ!” Liễu Địch tỏ vẻ vô cùng sốt ruột. “Cháu xin ông hãy nhanh nhanh một chút, được không ạ?”
“Được!...” Ông Lý dường như hơi phân vân. “Để ông đi tìm thầy ấy.”
Trái tim Liễu Địch như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Thầy Chương sắp tới rồi, cô sắp được nghe giọng nói của thầy rồi. Thời gian chầm chậm trôi đi. Liễu Địch nhìn đồng hồ, kim phút vẫn không hề nhúc nhích. Chờ đợi, chờ đợi... mỗi giây, mỗi phút chờ đợi như chịu đựng trăm ngàn nỗi giày vò. Cho đến bây giờ, Liễu Địch chưa từng trải qua sự chờ đợi mãnh liệt như vậy.
Một lúc sau, Liễu Địch dường như nghe thấy ở đầu bên kia điện thoại có rất nhiều tiếng thì thầm to nhỏ, thỉnh thoảng xen lẫn tiếng cười khe khẽ. Đã đến giờ tan học rồi sao? Hình như không phải, người cố ý hạ thấp giọng nói đó có vẻ rất kỳ lạ. Nhưng mặc kệ, thầy Chương sắp đến rồi! Sao vẫn chưa thấy đâu cả? Mặc dù trời hơi lạnh nhưng Liễu Địch vẫn toát mồ hôi. Lần đầu tiên cô có cảm giác, hóa ra thời gian cũng có thể hành hạ con người. Tiếng nói chuyện xì xào ở đầu kia điện thoạt đột nhiên biến mất. Liễu Địch nghe thấy tiếng bước chân quen thuộc, trái tim cô như ngừng đập. Sau đó, cô nghe thấy giọng nói trầm thấp vô cùng quen thuộc: “A lô! Tôi là Chương Ngọc!”
Sống mũi Liễu Địch cay cay, nước mắt trào ra, cổ họng tắc nghẹn. Cô vô cùng xúc động, nhịp tim đập mỗi lúc một nhanh, máu trong huyết quản như sôi sục. Bàn tay cầm ống nghe điện thoại run run, trái tim cô cũng run rẩy từng hồi. Cô muốn hàn huyên vài câu nhưng vừa mở miệng, tâm trạng xúc động trào ra theo giọng nói: “Thầy Chương, em là Liễu Địch! Em đang ở Bắc Kinh, gọi điện cho thầy. Em không rõ vì sao mình lại gọi cho thầy như thế này, em chỉ biết em không thể không gọi. Em rất muốn, rất muốn nghe giọng nói của thầy! Thầy có khỏe không ạ? Công việc có thuận lợi không ạ? Thầy đang dạy lớp mấy? Ai giúp thầy chấm bài? Ai tiễn thầy ra bến xe buýt? Ai quét dọn văn phòng của thầy? Ai lĩnh lương giúp thầy? Thầy còn chơi guitar không ạ? Còn hát không ạ? Có nhớ Bắc Đại không ạ? Thầy Chương...” Liễu Địch đột nhiên ngừng lại. Sau đó, cô thốt ra ba từ bằng tất cả tâm hồn mình: “Em nhớ thầy!”
Hai đầu điện thoại cùng im lặng, chỉ nghe thấy tiếng thở của nhau. Liễu Địch hít một hơi thật sâu, cô chưa bao giờ trải qua tình cảm mãnh liệt, cũng chưa bao giờ tâm tình trào dâng cuồng nhiệt như vậy. Nước mắt chảy dài xuống gò má. Thứ tình cảm ẩn giấu trong lòng cô vừa đâm chồi, được giọt lệ tưới tắm, nhanh chóng sinh sôi. Liễu Địch lau khô nước mắt, đôi mắt cô lúc này ngời sáng. Sau đó, cô tiếp tục: “Thầy Chương! Em ở Bắc Đại rất tốt. Thầy nói đúng, Bắc Đại thật sự là một thánh đường. Hiện tại em đang sống ở Trúc Ngâm Cư của Giáo sư Tô, đó là một nơi tuyệt vời như chốn thần tiên. Vợ chồng Giáo sư Tô đối xử với em rất tốt, coi em như con gái. Em biết nhiều giảng viên, cũng làm quen với nhiều bạn bè. Đúng rồi, thứ Bảy tuần trước em còn gặp Giáo sư Quý Tiễn Lâm[1] ở Trúc Ngâm Cư. Em đã nói chuyện với ông ấy cả buổi chiều. Em nghĩ, trong bốn năm tới, em nhất định thu hoạch được nhiều điều từ Bắc Đại, em sẽ dùng nó để tạo ra tương lai tươi sáng của mình. Thầy Chương, thầy có tin em không?”
[1] Quý Tiễn Lâm (1911-2009): giáo sư Đại học Bắc Kinh, nhà ngôn ngữ học Trung Quốc, dịch giả văn học, chuyên gia chữ Phạn và ngôn ngữ Pali.
Đầu bên kia điện thoại vẫn im lặng.
“Thầy Chương!” Liễu Địch nói tiếp. “Thầy hãy kể cho em về thầy đi, được không ạ? Thầy vẫn ở văn phòng trên tầng bốn của tòa nhà phía bắc đấy chứ? Ở đó có lạnh không? Học sinh mới giúp thầy có trách nhiệm như em không? Chậu hoa nhài của em vẫn tươi tốt chứ? Cây dương liễu và đinh hương ở bến xe chắc rụng lá rồi, chúng...” Liễu Địch đột nhiên ôm miệng. Hoa nhài, dương liễu, đinh hương là những thứ thầy không nhìn thấy. Cô nhanh chóng chuyển sang chuyện khác: “Thầy Chương, thầy kể về cuộc sống của thầy đi ạ!”
Đầu kia điện thoại vẫn không một tiếng động.
Liễu Địch hơi hốt hoảng. Bây giờ cô mới chú ý, kể từ lúc nhận điện thoại, thầy Chương chưa nói một câu nào, thậm chí còn không có lấy một tiếng thở dài. Liễu Địch lắc lắc ống nghe, điện thoại chưa bị ngắt, bởi cô lại nghe thấy tiếng rì rầm to nhỏ từ đầu bên kia truyền tới. Cô linh cảm có chuyện gì đó bất thường. Lẽ nào thầy Chương gặp phiền phức? Một nỗi hoảng sợ dấy lên trong lòng Liễu Địch, cô liền cất cao giọng: “Thầy Chương, thầy làm sao vậy? Thầy nói gì đi ạ! Thầy gặp chuyện gì rồi? Thầy Chương, thầy lên tiếng đi ạ! Thầy nói một câu có được không? Thầy làm sao vậy, thầy Chương?”
Đầu kia vang lên một tiếng “cạch”, điện thoại đã bị ngắt.
Liễu Địch sững sờ. Tiếng “cạch” đó tựa hồ tiếng dao sắc nhọn cứa vào lòng cô. Bàn tay cầm ống nghe của cô càng run rẩy. Trong lòng cô trào dâng một nỗi hoảng sợ khó diễn tả, hai chân mềm nhũn.
Ngoài nỗi hoảng sợ, cảm giác lo lắng, bất lực, điên cuồng, chua xót… cùng một lúc tấn công trái tim nhỏ bé của Liễu Địch. Cô chưa bao giờ trải qua cảm giác này, cô thấy mình như sắp sụp đổ. Liễu Địch lập tức thả điện thoại, nhanh chóng lao ra ngoài, quên cả rút thẻ từ. Cô không biết mình đã chạy đi đâu. Huyết mạch trên người cô sôi sục, tình cảm trong cô cuộn trào, cô cần phải giải tỏa, cần tìm một nơi để giải tỏa. Liễu Địch chạy theo ý thức mơ hồ. Cuối cùng, cô phát hiện cô đang đứng trước cổng của Trúc Ngâm Cư.
Liễu Địch không do dự lao vào bên trong.
Giáo sư Tô đang ngồi ngoài đình đọc sách. Thấy bộ dạng hớt hơ hớt hải của Liễu Địch, ông vội buông quyển sách, đứng dậy, kéo cô lại gần, hỏi han: “Liễu Địch, con làm sao thế? Con bị ốm à? Sắc mặt của con sao xấu vậy?”
Liễu Địch ôm chặt Giáo sư Tô như ôm vị thần bảo vệ. “Giáo sư Tô! Con sợ!”
“Đừng sợ, đừng sợ!” Giáo sư Tô một tay ôm Liễu Địch, một tay vỗ nhẹ lên vai cô, an ủi. “Con đang ở Trúc Ngâm Cư, có ta ở bên cạnh, con không việc gì phải sợ. Dù trời có sập xuống, ta cũng sẽ chống đỡ cho con.”
Giọng nói của Giáo sư Tô rất dịu dàng. Liễu Địch bất giác ngẩng đầu, nhìn ông, ánh mắt đầy cảm kích. Ông đúng là người cha hiền từ, dù không rõ nguyên nhân khiến con gái sợ hãi nhưng ông vẫn cất lời an ủi. Nhờ câu nói của Giáo sư Tô, nỗi sợ hãi trong lòng Liễu Địch cũng vơi đi. Giáo sư Tô đỡ cô ngồi xuống chiếc ghế đá trong đình.
“Nói cho ta nghe, tại sao con lại sợ hãi như vậy?” Giáo sư Tô hỏi.
“Con không biết.” Liễu Địch thật thà trả lời. “Con vừa gọi điện cho thầy Chương.”
Giáo sư Tô rùng mình. “Thầy Chương làm sao rồi?” Giọng ông không còn vẻ bình tĩnh và ung dung nữa.
Liễu Địch lắc đầu, cô đã hoàn toàn tỉnh táo. “Con không biết thầy bị làm sao. Thầy nghe điện thoại nhưng không nói câu nào. Điều này khiến con hoảng sợ. Con lo thầy gặp phiền phức gì đó.”
Liễu Địch đột nhiên bị kích động, ánh mắt sáng rực. “Giáo sư Tô, con không biết thầy bị làm sao, nhưng con biết con bị làm sao rồi.” Cô hít một hơi sâu rồi cất giọng kiên định: “Con yêu thầy! Con yêu thầy! Con yêu thầy Chương!”
Lời vừa thốt ra miệng, Liễu Địch hoàn toàn sửng sốt. Trời ạ, cô vừa nói gì vậy? Tại sao cô lại nói câu này? Tuy nhiên, trong tâm trạng xúc động, cô đã nhận thức một cách sâu sắc, lời cô vừa nói là “sự thật”. Đúng vậy, cuối cùng cô đã hiểu, thứ tình cảm điên cuồng nảy sinh trong cô chính là tình yêu, là tình yêu dành cho thầy Chương! Việc cô yêu thầy là sự thật không thể thay đổi.
Giáo sư Tô dường như cũng bị chấn động, ông ngẩng đầu, thăm dò: “Liễu Địch, con có biết con đang nói gì không? Con yêu thầy Chương? Con bắt đầu yêu Chương Ngọc từ lúc nào?”
Liễu Địch lắc đầu. “Con cũng không biết con bắt đầu yêu thầy từ khi nào. Có lẽ từ rất lâu rồi. Nhưng đến hôm nay, con mới phát hiện ra tình cảm của con, thứ tình cảm vô cùng mãnh liệt mà con chưa từng trải qua.” Cô đột nhiên đứng dậy, gương mặt ngời sáng lạ thường. “Đúng vậy, con phát hiện con đã yêu thầy. Cả sinh mệnh của con, tâm hồn của con đều yêu thầy!”
“Vậy sao?” Giáo sư Tô nhíu mày, nhìn Liễu Địch chăm chú. Ánh mắt ông lộ vẻ nghiên cứu và phán đoán. “Ta còn tưởng những ngày vừa qua con đã bị đứa con trai yêu quý của ta thu hút.”
Hải Thiên? Liễu Địch mơ hồ nghĩ. Hải Thiên là người tài hoa xuất chúng, học rộng biết nhiều, đa tài, phóng khoàng, nhiệt tình, có cặp mắt sáng, yêu một người con gái bằng cả sinh mạng… Anh là hình tượng nam tử hán lý tưởng nhất trong lòng cô, anh từng chiếm hữu tư tưởng cô, từng len lỏi vào giấc mơ của cô, từng khiến cô rung động. Tuy nhiên, những điều này như là chuyện của mấy trăm năm trước. Liễu Địch ngước nhìn Giáo sư Tô, cất giọng kiên định và rõ ràng: “Giáo sư Tô, anh Hải Thiên là người đàn ông xuất sắc, con chưa gặp người xuất sắc hơn anh ấy. Con khâm phục anh ấy, ngưỡng mộ anh ấy. Con thừa nhận, có một khoảng thời gian, đúng là con bị anh ấy thu hút. Thế nhưng…” Cô đột nhiên ngẩng cao đầu. “Hôm nay, cuối cùng con cũng nhận ra tình cảm của mình. Có thể con nhất thời bị anh Hải Thiên mê hoặc, nhưng con đối với thầy Chương là sự tôn kính gần như sùng bái. Thầy khiến con bị khuất phục tự đáy lòng, khao khát tự đáy lòng, yêu thương tự đáy lòng. Tình cảm của con đối với thầy có cả sự sùng bài, ái mộ, khát khao, quyến luyến… Đây là tình cảm đã được tôi luyện qua ba năm con và thầy cũng trải qua phong ba bão táp, là tình cảm nảy sinh từ sự tin tưởng, chia sẻ cùng nhau. Con luôn đau nỗi đau của thầy, niềm vui của thầy cũng là niềm vui của con. Tình cảm này rất thần kỳ, mãnh liệt. Nếu đó không phải là tình yêu thì con không biết gọi là gì nữa!”
Giáo sư Tô lặng lẽ nhìn Liễu Địch. Vẻ mặt của cô rạng rỡ, tỏa ánh hào quang sáng chói. Giáo sư Tô hết sức cảm động bởi tình cảm kinh thiên động địa đó. Nhưng nơi đáy mắt ông vụt qua một tia đau đớn, sắc mắt ông trở nên trắng bệch. Ông dường như phân vân một lúc, cuối cùng cũng thốt nên lời: “Con gái, con có biết không? Hải Thiên thật ra chính là thầy Chương của con!”
Có bị sét đánh trúng thì Liễu Địch cũng không chấn động như khi nghe câu nói của Giáo sư Tô. Cô như hóa đá, chân tay tê dại. Cô mở to mắt nhìn Giáo sư Tô một lúc lâu mới lắp bắp hỏi: “Anh Hải Thiên… là thầy Chương? Anh Hải Thiên… chẳng phải là con trai Giáo sư sao?”
“Cô bé ngốc này!” Giáo sư Tô cất giọng đau đớn. “Hải Thiên chính là thầy Chương! Tên đầy đủ là Chương Hải Thiên, Chương Ngọc là tên trước kia. Nó không thích tên Chương Ngọc nên lúc đăng ký thi đại học, nó đã giấu bố mẹ sửa lại tên trong hộ khẩu. Sau khi xảy ra vụ hỏa hoạn, để mọi người không tìm ra tung tích của nó, lúc đăng ký lại hộ khẩu, nó đã dùng cái tên trước kia. Hải Thiên đúng là suy nghĩ đâu ra đấy. Sau khi nó mất tích, trong quá trình tìm kiếm, thậm chí ta đã đến thành phố của con, nhưng kết quả đều là “điều tra không ra người này”. Ngay cả khi đọc bài văn của con, ta cũng không ngờ “Chương Ngọc” và “Chương Hải Thiên” là một người.
“Nhưng…” Liễu Địch vẫn hết sức nghi hoặc. “Anh Hải Thiên chẳng phải là con trai của Giáo sư sao?”
Giáo sư Tô thở dài, ngước nhìn bầu trời lúc chiều tà, như hồi tưởng năm tháng xa xưa. “Hải Thiên đúng là con trai của ta. Chúng ta không có con. Ta biết Hải Thiên từ chín năm trước. Kể từ lúc đó, ta đã yêu quý nó như con ruột. Hải Thiên cũng yêu quý chúng ta. Sau một thời gian, Hải Thiên dọn đến Trúc Ngâm Cư, trở thành thành viên không thể thiếu của gia đình ta. Nó có phòng ngủ và thư phòng riêng, nó gọi chúng ta là bố mẹ, đối xử với chúng ta như bố mẹ ruột. Chúng ta cũng coi nó như con ruột. Bởi vì quên ở rất xa nên Hải Thiên thường ăn tết ở đây. Năm năm trước, bố mẹ Hải Thiên chuyển công tác lên miền Bắc, đó là lần đầu tiên nó về ăn Tết cùng bố mẹ. Không ngờ nó một đi không trở lại... Cô bé ngốc này, con ở Trúc Ngâm Cư lâu như vậy, lẽ nào con không phát hiện ra hay sao?”
Đúng vậy, tại sao mình không phát hiện ra? Liễu Địch ngẫm nghĩ, cô từ từ hồi tưởng một số đầu mối mà trước đây cô không lưu ý. Thảo nào sách ở Hải Thiên Thư Ốc gần như không có cuốn nào trùng với sách của thầy Chương. Thảo nào nhìn ảnh của Hải Thiên, cô có cảm giác quen thuộc, mái tóc đen đó, đường nét cương nghị đó, thân hình cao lớn đó chẳng phải là nét đặc trưng của thầy Chương sao? Thảo nào cô thấy lời lẽ của Hải Thiên kỳ ngữ rất quen thuộc, đó chẳng phải là phong cách nhận xét bài làm văn của thầy Chương sao? Thảo nào mỗi khi nhắc đến Hải Thiên, vợ chồng Giáo sư Tô đều lộ vẻ bi thương. Thảo nào Hải Thiên một thời gian dài không về nhà... Trời ạ, bao nhiêu đầu mối như vậy mà cô lại bỏ qua!
Nhưng cũng phải thôi, làm sao Liễu Địch có thể ngờ, Hải Thiên tràn đầy sức sống, Hải Thiên có đôi mắt sáng ngời và thầy Chương cả ngày đeo cặp kính đen lạnh lùng, cao ngạo lại là một người. Liễu Địch cảm thấy trái tim mình đang nhói đau, nỗi đau chưa từng có. Cô vùi đầu vào lòng bàn tay, chìm đắm trong ký ức.
Một lúc lâu sau, Liễu Địch ngẩng đầu, khóe mắt ngấn lệ. Cô cất giọng chậm rãi: “Con từng nói thầy Chương là người anh hùng có số phận bi kịch. Bây giờ con đã hiểu hàm nghĩa của từ “bi kịch”. Bi kịch chính là những thứ đẹp đẽ bị phá hủy. Nhà văn Lỗ Tấn nói rất đúng. Thầy Chương chính là vẻ đẹp bị số mệnh hủy diệt. Nhưng vẻ đẹp mãi mãi là đẹp, dù có bị nghiền thành mảnh vụn cũng vẫn đẹp.” Cô đột nhiên nắm tay Giáo sư Tô. “Giáo sư Tô, con yêu vẻ đẹp của thầy Chương, con không bận tâm thầy ấy bị hủy diệt đến mức nào. Chắc Giáo sư cũng hiểu tính con, vậy tại sao Giáo sư không nói sớm cho con biết?”
Giáo sư Tô nhìn vào cặp mắt trong veo của Liễu Địch, cất giọng chua xót và bất lực: “Con gái, kể từ lần đầu tiên gặp con, ta đã biết con không phải người tầm thường. Nhưng ta không thể nói với con sự thật, là vì Chương Ngọc không cho ta nói.”
“Tại sao?” Liễu Địch nghi hoặc. “Tại sao thầy Chương phải làm vậy?”
“Bởi vì...” Giọng nói của Giáo sư Tô càng có vẻ khổ sở. “Bởi vì Hải Thiên luôn yêu con! Nó không muốn làm hại con!”
Liễu Địch đứng bật dậy, mở to hai mắt, vẻ mặt đầy kinh ngạc và xúc động. “Giáo sư nói gì cơ?” Cô lắp bắp. “Giáo sư nói... thầy Chương... yêu con?”
“Đúng vậy, Hải Thiên rất yêu con!” Giáo sư Tô không hề do dự. “Yêu con không lời nào tả xiết.”
Liễu Địch ngẩn người, mãi mới có phản ứng: “Sao... sao Giáo sư biết... thầy... yêu con?”
Giáo sư Tô thở dài, vẫy tay ra hiệu cho Liễu Địch ngồi xuống. “Liễu Địch, con còn nhớ hôm ta gặp lại Chương Ngọc ở văn phòng không? Lần Chương Ngọc đuổi con ra ngoài ấy?”
Liễu Địch gật đầu.
“Buổi nói chuyện với Hải Thiên hôm đó là cuộc trò chuyện đau khổ nhất trong cuộc đời ta.” Giáo sư Tô chìm vào ký ức đau đớn, vẻ mặt ông vô cùng nặng nề và bi thương. “Hải Thiên mất tích là nỗi đau rất lớn của ta. Sau một thời gian dài tìm kiếm mà không có kết quả, ta thậm chí đã cho rằng nó không còn sống trên cõi đời này. Nhưng ta nằm mơ cũng không ngờ Hải Thiên lại ra nông nỗi đó. Khi nhìn thấy nó dò dẫm pha trà cho ta, ta cảm thấy thà ta nghe tin nó chết còn hơn là chứng kiến cảnh tượng trước mắt. Liễu Địch, nỗi đau trong lòng ta, có lẽ bây giờ con đã hiểu được ít nhiều. Còn lúc đó con chưa thể lĩnh hội, bởi vì con chưa gặp một Hải Thiên tràn đầy sức sống. Hôm đó, ta không thể kiềm chế, ra lệnh cho Hải Thiên về nhà, về Trúc Ngâm Cư ngay lập tức. Ta không thể nhìn nó chịu khổ cực như vậy. Nhưng nó đã từ chối, nó nói: “Bác Tô, tuy bây giờ con chẳng có gì cả, nhưng ít nhất con vẫn có thể sống tự lập. Như vậy, con mới giữ được sự tôn nghiêm làm người. Nếu con đi theo bác, con sẽ trở thành một kẻ ăn bám đáng thương, không còn sự tôn nghiêm và nhân cách.” Hải Thiên coi nhân cách và sự tôn nghiêm còn quan trọng hơn mạng sống. Nó vốn là người cao ngạo từ cốt tủy, không khó khăn, gian khổ nào có thể đánh bại. Nhưng làm sao ta có thể khoanh tay đứng nhìn nó chịu khổ. Nó thậm chí còn gọi ta là “bác Tô” chứ không gọi là “bố”. Nó cố ý giữ khoảng cách với ta, nó không muốn làm liên lụy tới ta. Nhưng ta có thể bỏ mặc con trai của mình sao? Ta đã hét lên với nó: “Hải Thiên, con không thể ích kỷ như vậy, không thể vì một chút tôn nghiêm của con mà tàn nhẫn cướp đoạt tư cách làm cha của bố, con không có quyền cướp đi người con trai của bố!” Hải Thiên trầm mặc. Một lúc sau, nó nói bằng giọng bình tĩnh: “Đúng vậy, con đã cướp đi con trai của bác, vậy con sẽ trả lại cho bác một cô con gái. Liễu Địch xứng đáng làm con gái bác.”
“Thầy Chương...” Liễu Địch đau khổ gọi khẽ. Cuối cùng cô cũng hiểu tại sao Giáo sư Tô lại dặn cô đến Trúc Ngâm Cư, tại sao ông lại vội vàng đi tìm cô lúc cô mới nhập học, tại sao ông lại đối xử với cô tốt như vậy.
“Liễu Địch!” Giáo sư Tô nhận ra tâm tư của cô. “Ta đối xử tốt với con không chỉ vì Hải Thiên giao phó. Hải Thiên nói đúng, con xứng đáng làm con gái của ta. Chỉ sợ ta không xứng làm cha của con.”
“Giáo sư đừng nói nữa, con hiểu!” Liễu Địch cất giọng thành khẩn. “Giáo sư kể tiếp đi ạ!”
Giáo sư Tô thở dài, uống một ngụm trà rồi kể tiếp: “Nghe Hải Thiên nói vậy, ta có phần ngạc nhiên. Sắc mặt nó không chút biểu cảm nhưng sống với nó nhiều năm, ta biết nhất định có tình cảm gì đó đang nảy nở trong trái tim nó, thế là ta hỏi: “Con yêu cô bé đó đúng không?” Hải Thiên gượng cười, chỉ tay về phía chậu hoa nhài trên bệ cửa sổ. “Cô ấy thuần khiết như chậu hoa nhài này. Nếu nhốt cô ấy ở trong phòng tối, liệu cô ấy còn có thể sinh trưởng và nở hoa?” Ta không thể trả lời câu hỏi của nó. Một lúc sau, ta hỏi: “Cô bé đó thì sao? Nó có yêu con không?” Hải Thiên trầm mặc một lúc mới trả lời: “Con đang cố gắng để cô ấy đừng yêu con!”.”
Nói đến đây, Giáo sư Tô đột nhiên ngừng lại, ngẩng đầu nhìn Liễu Địch chăm chú, sau đó cất giọng hiền từ và bi thương: “Liễu Địch, ta dám khẳng định Chương Ngọc yêu con bằng tình cảm cố chấp, nhẫn nhịn và đau khổ. Nó yêu con sâu sắc đến mức không muốn để tình yêu của nó ảnh hưởng đến tương lai và danh dự của con.”
Lời của Giáo sư Tô như quả bom lớn nổ tung trong đầu Liễu Địch, lay động mọi hồi ức chôn sâu dưới đáy lòng cô. Rất nhiều chuyện cũ như cảnh đặc tả trong phim điện ảnh hiện lên trong đầu cô. Liễu Địch ôm đầu, gục xuống bàn đá. Cô nhớ đến hình ảnh thầy Chương đợi cô trong buổi tối tuyết rơi đầy trời, hình ảnh thầy đội mưa gió đến địa điểm thi động viên và cam đoan với cô, thầy ngày ngày cùng cô đợi giấy báo trúng tuyển, thầy lần đầu kể chuyện cuộc đời mình ở văn phòng, thầy bộc lộ tình ý khi chơi guitar ở ngôi nhà nhỏ, thầy vòng tay ôm cô ở bến xe, rồi nụ cười rạng rỡ như ánh mặt trời đó... Trời ạ, cô thật hồ đồ! Tại sao cô không nhận ra, ngay cả sự cự tuyệt lạnh lùng cũng thể hiện tình yêu sâu sắc của thầy? Vậy mà cô còn tủi thân, còn thờ ơ, thậm chí hai tháng nay còn quên mất thầy.
Cảm giác hối hận, đau khổ, cảm động, áy náy.... lại một lần nữa tràn ngập trong lòng Liễu Địch. Cô ngẩng đầu, cất giọng tự trách: “Giáo sư Tô! Con thật đáng chết! Con không biết thầy luôn yêu con!”
Giáo sư Tô lắc đầu. “Liễu Địch, con đừng tự trách bản thân. Con còn quá trẻ, vẫn chưa hiểu thế nào là tình yêu.”
“Không, bây giờ con đã hiểu rồi!” Trong mắt Liễu Địch như bùng cháy một đốm lửa. “Con yêu thầy Chương, yêu thầy ấy bằng cả trái tim mình. Con phải nói cho thầy biết là con yêu thầy. Thầy sẽ không bao giờ phải chịu cô đơn một mình, vì bất kể gặp phải khó khăn gì, con cũng sẽ ở bên thầy! Con sẽ là đôi mắt của thầy. Đúng vậy, con sẽ là đôi mắt của thầy. Con sẽ giúp thầy trở lại với công việc sáng tác. Milton, Homer, B.R.Epomehk chẳng phải đều là nhà thơ, nhà văn khiếm thị hay sao[2]? Dựa vào tài năng của thầy nhất định thầy sẽ trở thành một nhà văn xuất sắc. Giáo sư Tô...” Liễu Địch nắm tay Giáo sư Tô. “Giáo sư hãy mua giùm con vé tàu hỏa, ngày mai con sẽ đi thăm thầy. Mai là thứ Bảy, con không cần xin nghỉ học, Chủ nhật con sẽ quay về. Trong điện thoại thầy chẳng nói câu nào, con thật sự lo thầy xảy ra chuyện. Hơn nữa, con nghe thấy những tiếng thì thầm to nhỏ và tiếng cười xấu xa. Thầy nhất định gặp phiền phức rồi. Con phải quay về, con phải quay về ngay, con sẽ giúp thầy giải quyết rắc rối. Hai người dù sao cũng mạnh hơn một người. Giáo sư Tô, con nhất định phải về với thầy.”
[2] John Milton (1608-1674): nhà thơ, soạn giả, nhà phê bình văn học người Anh. Homer: nhà văn, người hát rong truyền thuyết thời cổ Hy Lạp được công nhận là tác giả của hai trường ca Iliad và Odyssey. B.R.Epomehk (1889-1952): nhà thơ người Nga.
“Liễu Địch, con đừng quá xúc động!” Giáo sư Tô quả quyết cắt ngang lời cô. “Có lẽ không phải Hải Thiên gặp phiền phức, mà là nó nhận ra tình cảm của con, sợ làm liên lụy đến con nên mới cố ý làm vậy.”
“Dù thế nào con cũng phải quay về!” Liễu Địch kiên định nói. “Thầy Chương sống trong cô quạnh và đau khổ như vậy, con phải nói cho thầy biết, trên thế giới này có một người yêu thầy, coi thầy còn quan trọng hơn mạng sống của cô ấy. Dù chỉ là một cô gái bình thường nhưng cô ấy sẽ gắn kết sinh mệnh của cô ấy với sinh mệnh của thầy. Như vậy thầy sẽ không cô đơn nữa.”
“Liễu Địch!” Giáo sư Tô sững sờ nhìn cô gái nhỏ trước mặt. Cô bé vô cùng thuần khiết, cô bé là người có tư tưởng, có chủ kiến, dám yêu, dám hận. Cô bé yêu Hải Thiên không phải vì sự xúc động nhất thời. Thế nhưng.... Vẻ mặt Giáo sư Tô đột nhiên trở nên nặng nề. “Liễu Địch, con đã nghĩ tới chưa, tình yêu của các con liệu có kết quả không? Bố mẹ con sẽ nói thế nào? Dư luận xã hội sẽ phản ứng ra sao? Ngoài ra, Hải Thiên còn là... người khiếm thị. Thế giới của người khiếm thị như thế nào, con có hiểu nổi không? Con yêu Hải Thiên, con sẽ phải chăm sóc nó cả đời. Việc chăm sóc một người mù sẽ khiến con phải hy sinh rất nhiều, kể cả việc học tập, sự nghiệp của con và những thứ khác nữa. Con sẽ phải đối mặt với khó khăn mà con không tưởng tượng nổi. Trước mỗi khó khăn, con đều phải hao tổn nhiều tinh thần và sức lực để khắc phục. Công việc của Hải Thiên không ổn định, nó đứng trước nguy cơ bị mất việc bất cứ lúc nào, trong khi con vẫn còn đi học. Vấn đề kinh tế là bài toán rất nan giải. Các con phải đối mặt với áp lực từ mọi phía, chúng đủ đánh gục các con. Hơn nữa, có thể con còn phải đối mặt với trở ngại xuất phát từ Hải Thiên. Tâm hồn của người mù rất nhạy cảm, ta không dám nói Hải Thiên không hề cảm thấy tự ti. Có thể trước mặt người khác, nó không tự ti, nhưng khi đối diện với con, ta không dám bảo đảm điều đó... Những điều này, con đã nghĩ tới chưa?”
Liễu Địch cúi đầu, cô không có cách nào phủ nhận lời nói của Giáo sư Tô. Đây là sự thật không thể trốn tránh. Trầm tư một lát, Liễu Địch ngẩng đầu, vẻ mặt cô trang nghiêm, nơi đáy mắt bộc lộ sự quyết tâm bất chấp tất cả. Cô lên tiếng, giọng rõ ràng, tràn đầy sức mạnh: “Giáo sư Tô, con biết những điều Giáo sư nói đều là sự thật, hoặc sắp trở thành sự thật. Nhưng nếu con trốn tránh, một mình thầy Chương sẽ phải gánh chịu tất cả khó khăn này. Con nghĩ, một khi yêu nhau thì cả hai người phải cùng gánh vác khó khăn. Con không bận tâm con phải hy sinh bao nhiêu, mất đi bao nhiêu, con chỉ muốn nói, kể từ ngày hôm nay, sinh mệnh và tâm hồn của con hòa vào sinh mệnh và tâm hồn của thầy. Nỗi đau của thầy cũng là nỗi đau của con, niềm vui của thầy chính là niềm vui của con. Chúng con vinh nhục cùng hưởng, không phải là chuyện ai hy sinh cho ai. Nếu cuộc đời thầy là một cái giếng khô, con cũng sẽ ở dưới giếng khô với thầy, cho đến khi chúng con cùng đào tới được một mạch nước ngọt trong lành. Nếu số mệnh đã định thầy phải sống trong địa ngục, con cũng sẽ xuống địa ngục với thầy. Hai người chịu tội dưới địa ngục dù sao cũng tốt hơn một người lẻ loi trên cõi đời. Tóm lại, con biết rõ tương lai của chúng con sẽ gặp phải rất nhiều chông gai. Sau khi vượt qua tất cả, có lẽ chúng con sẽ đến được một thế giới tươi đẹp, cũng có thể chúng con sẽ nghèo khó, vất vả một đời, hoặc không thể vượt qua được chông gai. Dù kết quả thế nào, con cũng đi theo thầy!”
Giáo sư Tô bị chấn động bởi lời bày tỏ tình cảm thẳng thắn và sâu sắc của Liễu Địch. Ông nhìn cô chăm chú. Gương mặt trắng ngần của cô ửng đỏ vì xúc động, trong cặp mắt đen láy như bùng cháy một ngọn lửa. Toàn thân cô như tỏa ra ánh hào quang làm rung động lòng người. Cô thật đẹp, một vẻ đẹp thuần khiết và thông tuệ. Giáo sư Tô bất giác thở dài, một cô bé tuyệt vời như vậy mà Hải Thiên lại không thể nhìn thấy. Bởi đối với người mù, vẻ đẹp bề ngoài vĩnh viễn không tồn tại. Nhưng ông biết, đối với hai đứa trẻ này, vẻ đẹp bề ngoài cũng không tồn tại. Hải Thiên không nhìn thấy Liễu Địch nhưng vẫn yêu cô, còn Liễu Địch đã bỏ qua Hải Thiên mắt sáng để đi yêu Chương Ngọc mù lòa. Hai đứa trẻ yêu nhau bằng trái tim, tâm hồn của chúng. Giống như Hải Thiên nói: “tâm hồn hòa làm một”. Tình yêu như vậy liệu có thể chia cắt? Ai có thể chia tách hai tâm hồn đã hòa làm một?
Giáo sư Tô không khỏi cảm động bởi tình cảm của hai người trẻ tuổi. Có điều, Liễu Địch còn quá trẻ, cô bé không thể hiểu hết sự tàn nhẫn và vô tình của xã hội và con người. Về phần Hải Thiên, nó đã biết quá rõ, cũng phải trả cái giá quá đắt. Liệu nó có thể chấp nhận tình cảm của Liễu Địch? Liệu nó có chịu để Liễu Địch đi con đường đầy chông gai này không? Ông nên làm gì với đứa con trai và con gái mà ông yêu quý? Sống quá nửa đời người, đây là lần đầu tiên trong đời Giáo sư Tô cảm thấy mâu thuẫn và rối bời.
Trong lúc Giáo sư Tô chìm trong suy tư, Liễu Địch lại lên tiếng: “Giáo sư Tô, con xin Giáo sư, hãy giúp con mua một tấm vé tàu hỏa. Con thật sự không yên tâm, cuộc điện thoại ngày hôm nay quá bất thường, con nhất định phải quay về xem tình hình thế nào.”
Câu nói đó đã thức tỉnh Giáo sư Tô. Đúng vậy, con trai ông gặp phiền phức, sao ông có thể khoanh tay đứng nhìn? Hải Thiên là người cao ngạo, không chịu cúi đầu, ai biết được sẽ xảy ra chuyện gì? Nghĩ đến đây, Giáo sư Tô cất giọng lo âu: “Liễu Địch, ngày mai ta sẽ đi mua vé tàu hỏa. Ta cùng con đi thăm Hải Thiên. Đúng vậy, Hải Thiên đã mất quá nhiều thứ đẹp đẽ trong đời, nó không nên để lỡ tình yêu thuần khiết của con.”
“Thật vậy sao?” Liễu Địch vui mừng nhảy lên. Cô sắp được gặp lại thầy Chương, sắp được bày tỏ tình cảm với thầy sao? Thầy Chương gặp phiền phức ư? Cô không sợ, cô sẽ cùng thầy đối mặt. Thầy Chương không chấp nhận tình cảm của cô ư? Cô không sợ, chỉ cần thầy yêu cô, cô sẽ có cách khiến thầy chấp nhận tình cảm của cô.
Cảm giác ấm áp từ trái tim Liễu Địch lan khắp cơ thể. Đất đai tơi xốp, hoa cỏ hồi sinh, chồi non nhú lên, búp hoa nở rộ. Mùa xuân của sinh mệnh Liễu Địch, mùa đẹp nhất cuộc đời đột nhiên ập đến. Gió xuân thổi qua gương mặt cô, nước xuân làm ẩm ướt trái tim cô, hạt giống tình yêu được gieo xuống, nhanh chóng lớn lên thành một cái cây xanh tốt. Hạnh phúc khiến thiếu nữ mới biết yêu ngây ngất. Đúng vậy, mùa xuân rất đẹp. Khi nào gặp thầy Chương, cô nhất định sẽ dùng tình cảm ấm áp như mùa xuân, xua tan tâm hồn băng giá của thầy. Chỉ cần gặp thầy, mọi việc sẽ tốt đẹp. Đúng vậy, chỉ cần gặp thầy.
Ngày hôm sau, Giáo sư Tô không mua được vé tàu hỏa. Sáng sớm ngày hôm sau nữa, Liễu Địch nhận được điện báo, bên trên chỉ vẻn vẹn một hàng chữ: “Chương Ngọc qua đời vì tai nạn giao thông, mau về gấp!”
Mùa xuân của Liễu Địch lập tức bị bóp chết bởi hàng chữ tàn nhẫn, lạnh lùng đó. Trước mắt cô tối sầm, cô ngã vật xuống đất, bất tỉnh.
Giáo sư Tô thở dài, uống một ngụm trà rồi kể tiếp: “Nghe Hải Thiên nói vậy, ta có phần ngạc nhiên. Sắc mặt nó không chút biểu cảm nhưng sống với nó nhiều năm, ta biết nhất định có tình cảm gì đó đang nảy nở trong trái tim nó, thế là ta hỏi: “Con yêu cô bé đó đúng không?” Hải Thiên gượng cười, chỉ tay về phía chậu hoa nhài trên bệ cửa sổ. “Cô ấy thuần khiết như chậu hoa nhài này. Nếu nhốt cô ấy ở trong phòng tối, liệu cô ấy còn có thể sinh trưởng và nở hoa?” Ta không thể trả lời câu hỏi của nó. Một lúc sau, ta hỏi: “Cô bé đó thì sao? Nó có yêu con không?” Hải Thiên trầm mặc một lúc mới trả lời: “Con đang cố gắng để cô ấy đừng yêu con!”.”
Nói đến đây, Giáo sư Tô đột nhiên ngừng lại, ngẩng đầu nhìn Liễu Địch chăm chú, sau đó cất giọng hiền từ và bi thương: “Liễu Địch, ta dám khẳng định Chương Ngọc yêu con bằng tình cảm cố chấp, nhẫn nhịn và đau khổ. Nó yêu con sâu sắc đến mức không muốn để tình yêu của nó ảnh hưởng đến tương lai và danh dự của con.”
Lời của Giáo sư Tô như quả bom lớn nổ tung trong đầu Liễu Địch, lay động mọi hồi ức chôn sâu dưới đáy lòng cô. Rất nhiều chuyện cũ như cảnh đặc tả trong phim điện ảnh hiện lên trong đầu cô. Liễu Địch ôm đầu, gục xuống bàn đá. Cô nhớ đến hình ảnh thầy Chương đợi cô trong buổi tối tuyết rơi đầy trời, hình ảnh thầy đội mưa gió đến địa điểm thi động viên và cam đoan với cô, thầy ngày ngày cùng cô đợi giấy báo trúng tuyển, thầy lần đầu kể chuyện cuộc đời mình ở văn phòng, thầy bộc lộ tình ý khi chơi guitar ở ngôi nhà nhỏ, thầy vòng tay ôm cô ở bến xe, rồi nụ cười rạng rỡ như ánh mặt trời đó... Trời ạ, cô thật hồ đồ! Tại sao cô không nhận ra, ngay cả sự cự tuyệt lạnh lùng cũng thể hiện tình yêu sâu sắc của thầy? Vậy mà cô còn tủi thân, còn thờ ơ, thậm chí hai tháng nay còn quên mất thầy.
Cảm giác hối hận, đau khổ, cảm động, áy náy.... lại một lần nữa tràn ngập trong lòng Liễu Địch. Cô ngẩng đầu, cất giọng tự trách: “Giáo sư Tô! Con thật đáng chết! Con không biết thầy luôn yêu con!”
Giáo sư Tô lắc đầu. “Liễu Địch, con đừng tự trách bản thân. Con còn quá trẻ, vẫn chưa hiểu thế nào là tình yêu.”
“Không, bây giờ con đã hiểu rồi!” Trong mắt Liễu Địch như bùng cháy một đốm lửa. “Con yêu thầy Chương, yêu thầy ấy bằng cả trái tim mình. Con phải nói cho thầy biết là con yêu thầy. Thầy sẽ không bao giờ phải chịu cô đơn một mình, vì bất kể gặp phải khó khăn gì, con cũng sẽ ở bên thầy! Con sẽ là đôi mắt của thầy. Đúng vậy, con sẽ là đôi mắt của thầy. Con sẽ giúp thầy trở lại với công việc sáng tác. Milton, Homer, B.R.Epomehk chẳng phải đều là nhà thơ, nhà văn khiếm thị hay sao[2]? Dựa vào tài năng của thầy nhất định thầy sẽ trở thành một nhà văn xuất sắc. Giáo sư Tô...” Liễu Địch nắm tay Giáo sư Tô. “Giáo sư hãy mua giùm con vé tàu hỏa, ngày mai con sẽ đi thăm thầy. Mai là thứ Bảy, con không cần xin nghỉ học, Chủ nhật con sẽ quay về. Trong điện thoại thầy chẳng nói câu nào, con thật sự lo thầy xảy ra chuyện. Hơn nữa, con nghe thấy những tiếng thì thầm to nhỏ và tiếng cười xấu xa. Thầy nhất định gặp phiền phức rồi. Con phải quay về, con phải quay về ngay, con sẽ giúp thầy giải quyết rắc rối. Hai người dù sao cũng mạnh hơn một người. Giáo sư Tô, con nhất định phải về với thầy.”
[2] John Milton (1608-1674): nhà thơ, soạn giả, nhà phê bình văn học người Anh. Homer: nhà văn, người hát rong truyền thuyết thời cổ Hy Lạp được công nhận là tác giả của hai trường ca Iliad và Odyssey. B.R.Epomehk (1889-1952): nhà thơ người Nga.
“Liễu Địch, con đừng quá xúc động!” Giáo sư Tô quả quyết cắt ngang lời cô. “Có lẽ không phải Hải Thiên gặp phiền phức, mà là nó nhận ra tình cảm của con, sợ làm liên lụy đến con nên mới cố ý làm vậy.”
“Dù thế nào con cũng phải quay về!” Liễu Địch kiên định nói. “Thầy Chương sống trong cô quạnh và đau khổ như vậy, con phải nói cho thầy biết, trên thế giới này có một người yêu thầy, coi thầy còn quan trọng hơn mạng sống của cô ấy. Dù chỉ là một cô gái bình thường nhưng cô ấy sẽ gắn kết sinh mệnh của cô ấy với sinh mệnh của thầy. Như vậy thầy sẽ không cô đơn nữa.”
“Liễu Địch!” Giáo sư Tô sững sờ nhìn cô gái nhỏ trước mặt. Cô bé vô cùng thuần khiết, cô bé là người có tư tưởng, có chủ kiến, dám yêu, dám hận. Cô bé yêu Hải Thiên không phải vì sự xúc động nhất thời. Thế nhưng.... Vẻ mặt Giáo sư Tô đột nhiên trở nên nặng nề. “Liễu Địch, con đã nghĩ tới chưa, tình yêu của các con liệu có kết quả không? Bố mẹ con sẽ nói thế nào? Dư luận xã hội sẽ phản ứng ra sao? Ngoài ra, Hải Thiên còn là... người khiếm thị. Thế giới của người khiếm thị như thế nào, con có hiểu nổi không? Con yêu Hải Thiên, con sẽ phải chăm sóc nó cả đời. Việc chăm sóc một người mù sẽ khiến con phải hy sinh rất nhiều, kể cả việc học tập, sự nghiệp của con và những thứ khác nữa. Con sẽ phải đối mặt với khó khăn mà con không tưởng tượng nổi. Trước mỗi khó khăn, con đều phải hao tổn nhiều tinh thần và sức lực để khắc phục. Công việc của Hải Thiên không ổn định, nó đứng trước nguy cơ bị mất việc bất cứ lúc nào, trong khi con vẫn còn đi học. Vấn đề kinh tế là bài toán rất nan giải. Các con phải đối mặt với áp lực từ mọi phía, chúng đủ đánh gục các con. Hơn nữa, có thể con còn phải đối mặt với trở ngại xuất phát từ Hải Thiên. Tâm hồn của người mù rất nhạy cảm, ta không dám nói Hải Thiên không hề cảm thấy tự ti. Có thể trước mặt người khác, nó không tự ti, nhưng khi đối diện với con, ta không dám bảo đảm điều đó... Những điều này, con đã nghĩ tới chưa?”
Liễu Địch cúi đầu, cô không có cách nào phủ nhận lời nói của Giáo sư Tô. Đây là sự thật không thể trốn tránh. Trầm tư một lát, Liễu Địch ngẩng đầu, vẻ mặt cô trang nghiêm, nơi đáy mắt bộc lộ sự quyết tâm bất chấp tất cả. Cô lên tiếng, giọng rõ ràng, tràn đầy sức mạnh: “Giáo sư Tô, con biết những điều Giáo sư nói đều là sự thật, hoặc sắp trở thành sự thật. Nhưng nếu con trốn tránh, một mình thầy Chương sẽ phải gánh chịu tất cả khó khăn này. Con nghĩ, một khi yêu nhau thì cả hai người phải cùng gánh vác khó khăn. Con không bận tâm con phải hy sinh bao nhiêu, mất đi bao nhiêu, con chỉ muốn nói, kể từ ngày hôm nay, sinh mệnh và tâm hồn của con hòa vào sinh mệnh và tâm hồn của thầy. Nỗi đau của thầy cũng là nỗi đau của con, niềm vui của thầy chính là niềm vui của con. Chúng con vinh nhục cùng hưởng, không phải là chuyện ai hy sinh cho ai. Nếu cuộc đời thầy là một cái giếng khô, con cũng sẽ ở dưới giếng khô với thầy, cho đến khi chúng con cùng đào tới được một mạch nước ngọt trong lành. Nếu số mệnh đã định thầy phải sống trong địa ngục, con cũng sẽ xuống địa ngục với thầy. Hai người chịu tội dưới địa ngục dù sao cũng tốt hơn một người lẻ loi trên cõi đời. Tóm lại, con biết rõ tương lai của chúng con sẽ gặp phải rất nhiều chông gai. Sau khi vượt qua tất cả, có lẽ chúng con sẽ đến được một thế giới tươi đẹp, cũng có thể chúng con sẽ nghèo khó, vất vả một đời, hoặc không thể vượt qua được chông gai. Dù kết quả thế nào, con cũng đi theo thầy!”
Giáo sư Tô bị chấn động bởi lời bày tỏ tình cảm thẳng thắn và sâu sắc của Liễu Địch. Ông nhìn cô chăm chú. Gương mặt trắng ngần của cô ửng đỏ vì xúc động, trong cặp mắt đen láy như bùng cháy một ngọn lửa. Toàn thân cô như tỏa ra ánh hào quang làm rung động lòng người. Cô thật đẹp, một vẻ đẹp thuần khiết và thông tuệ. Giáo sư Tô bất giác thở dài, một cô bé tuyệt vời như vậy mà Hải Thiên lại không thể nhìn thấy. Bởi đối với người mù, vẻ đẹp bề ngoài vĩnh viễn không tồn tại. Nhưng ông biết, đối với hai đứa trẻ này, vẻ đẹp bề ngoài cũng không tồn tại. Hải Thiên không nhìn thấy Liễu Địch nhưng vẫn yêu cô, còn Liễu Địch đã bỏ qua Hải Thiên mắt sáng để đi yêu Chương Ngọc mù lòa. Hai đứa trẻ yêu nhau bằng trái tim, tâm hồn của chúng. Giống như Hải Thiên nói: “tâm hồn hòa làm một”. Tình yêu như vậy liệu có thể chia cắt? Ai có thể chia tách hai tâm hồn đã hòa làm một?
Giáo sư Tô không khỏi cảm động bởi tình cảm của hai người trẻ tuổi. Có điều, Liễu Địch còn quá trẻ, cô bé không thể hiểu hết sự tàn nhẫn và vô tình của xã hội và con người. Về phần Hải Thiên, nó đã biết quá rõ, cũng phải trả cái giá quá đắt. Liệu nó có thể chấp nhận tình cảm của Liễu Địch? Liệu nó có chịu để Liễu Địch đi con đường đầy chông gai này không? Ông nên làm gì với đứa con trai và con gái mà ông yêu quý? Sống quá nửa đời người, đây là lần đầu tiên trong đời Giáo sư Tô cảm thấy mâu thuẫn và rối bời.
Trong lúc Giáo sư Tô chìm trong suy tư, Liễu Địch lại lên tiếng: “Giáo sư Tô, con xin Giáo sư, hãy giúp con mua một tấm vé tàu hỏa. Con thật sự không yên tâm, cuộc điện thoại ngày hôm nay quá bất thường, con nhất định phải quay về xem tình hình thế nào.”
Câu nói đó đã thức tỉnh Giáo sư Tô. Đúng vậy, con trai ông gặp phiền phức, sao ông có thể khoanh tay đứng nhìn? Hải Thiên là người cao ngạo, không chịu cúi đầu, ai biết được sẽ xảy ra chuyện gì? Nghĩ đến đây, Giáo sư Tô cất giọng lo âu: “Liễu Địch, ngày mai ta sẽ đi mua vé tàu hỏa. Ta cùng con đi thăm Hải Thiên. Đúng vậy, Hải Thiên đã mất quá nhiều thứ đẹp đẽ trong đời, nó không nên để lỡ tình yêu thuần khiết của con.”
“Thật vậy sao?” Liễu Địch vui mừng nhảy lên. Cô sắp được gặp lại thầy Chương, sắp được bày tỏ tình cảm với thầy sao? Thầy Chương gặp phiền phức ư? Cô không sợ, cô sẽ cùng thầy đối mặt. Thầy Chương không chấp nhận tình cảm của cô ư? Cô không sợ, chỉ cần thầy yêu cô, cô sẽ có cách khiến thầy chấp nhận tình cảm của cô.
Cảm giác ấm áp từ trái tim Liễu Địch lan khắp cơ thể. Đất đai tơi xốp, hoa cỏ hồi sinh, chồi non nhú lên, búp hoa nở rộ. Mùa xuân của sinh mệnh Liễu Địch, mùa đẹp nhất cuộc đời đột nhiên ập đến. Gió xuân thổi qua gương mặt cô, nước xuân làm ẩm ướt trái tim cô, hạt giống tình yêu được gieo xuống, nhanh chóng lớn lên thành một cái cây xanh tốt. Hạnh phúc khiến thiếu nữ mới biết yêu ngây ngất. Đúng vậy, mùa xuân rất đẹp. Khi nào gặp thầy Chương, cô nhất định sẽ dùng tình cảm ấm áp như mùa xuân, xua tan tâm hồn băng giá của thầy. Chỉ cần gặp thầy, mọi việc sẽ tốt đẹp. Đúng vậy, chỉ cần gặp thầy.
Ngày hôm sau, Giáo sư Tô không mua được vé tàu hỏa. Sáng sớm ngày hôm sau nữa, Liễu Địch nhận được điện báo, bên trên chỉ vẻn vẹn một hàng chữ: “Chương Ngọc qua đời vì tai nạn giao thông, mau về gấp!”
Mùa xuân của Liễu Địch lập tức bị bóp chết bởi hàng chữ tàn nhẫn, lạnh lùng đó. Trước mắt cô tối sầm, cô ngã vật xuống đất, bất tỉnh.
Chương 16
Cảm giác như cả thế kỷ đã trôi qua, cuối cùng Liễu Địch cũng tỉnh lại từ cơn hôn mê.
Vừa mở mắt, cô liền nhiền thấy một thế giới toàn màu trắng, bức tường màu trắng, ga trải giường màu trắng, vỏ chăn màu trắng và cô y tá mặc bộ đồ màu trắng...
Ánh mắt cô hờ hững và vô thức lướt qua những thứ đó, sau đó dừng lại ở vợ chồng Giáo sư Tô đang đứng bên cạnh giường. Gương mặt họ chỉ sau một ngày mà già đi trông thấy, mỗi nếp nhăn tựa hồ khắc sâu nỗi đau đớn và bi thương. Nhưng ánh mắt họ thể hiện sự sốt ruột và mong chờ. Thấy Liễu Địch mở mắt, họ đồng thanh kêu lên: “Liễu Địch, con tỉnh rồi à?”
Liễu Địch rời mắt khỏi vợ chồng Giáo sư Tô, nhìn đi nơi khác một cách máy móc, tựa hồ không nghe thấy tiếng nói của họ. Hình như cô không ở thế giới này, mà đang ở một hành tinh xa xôi.
“Liễu Địch!” Bà Tô, hai mắt mọng đỏ, cúi người xuống thành giường, cất giọng lo lắng và sốt ruột. “Con... con không nhận ra chúng ta sao?”
Liễu Địch gật đầu, hai mắt đen láy, bờ môi trắng bệch.
“Ờ...” Bà Tô thở ra một hơi. “Vậy... con có muốn ăn gì không?”
Liễu Địch lắc đầu.
“Con có muốn ta tìm bác sĩ không? Hay là muốn ngủ một lát?”
Liễu Địch lại lắc đầu, cả cơ thể và ý thức dường như không thuộc về cô. Hiện tại, cô chỉ có khả năng duy nhất là gật đầu và lắc đầu.
“Liễu Địch!” Giáo sư Tô ở bên cạnh lên tiếng. “Con cần gì? Con mau nói chuyện đi! Nói một câu cũng được!”
Liễu Địch từ từ ngồi dậy, cố gắng nuốt nước bọt, động đậy bờ môi. Dưới ánh mắt căng thẳng và chờ đợi của vợ chồng Giáo sư Tô, cuối cùng cô khó nhọc thốt ra hai từ: “Con lạnh!”
Vợ chồng Giáo sư Tô ngẩn người. Trong phòng bật máy sưởi rất ấm, vậy mà Liễu Địch lại kêu lạnh. Giáo sư Tô nhẹ nhàng cầm tay Liễu Địch. Quả nhiên, bàn tay cô lạnh như cục đá.
Mùa xuân của sinh mệnh vẫn chưa đến vậy mà nó đã qua đi.
“Liễu Địch!” Giáo sư Tô hét lên. “Con làm sao vậy? Con đừng làm ta sợ!”
Liễu Địch không trả lời, cũng không nhúc nhích. Gương mặt trắng bệch của cô không có bất cứ biểu cảm nào, giống như cô đang đeo một tấm mặt nạ. Thần kinh của cô như đang chìm trong trạng thái tê liệt. Cô không còn chút sinh khí, giống như một hồn ma vật vờ, trôi dạt.
Giáo sư Tô hết sức đau lòng. Ông lặng lẽ nhìn gương mặt không còn sức sống của Liễu Địch mà không biết làm thế nào để khiến nỗi đau trong trái tim cô giảm bớt. Nỗi đau đó đến bất thình lình và dữ dội, khiến cả thế giới, tương lai, tình yêu và mộng ước của Liễu Địch vỡ vụn, khiến cô chỉ còn là cái xác không hồn. Liễu Địch bây giờ giống như một người không biết bơi bị rơi xuống nước, ban đầu còn vùng vẫy để ngoi lên mặt nước hít thở, nhưng sau đó dần chìm sâu xuống, đến ý thức cầu cứu, ý thức sinh tồn cũng biến mất.
“Liễu Địch!” Giáo sư Tô lại gọi tên cô. “Con tỉnh lại đi, tỉnh lại đi! Chúng ta đã ở bên con một ngày trời. Chúng ta không muốn thấy con như vậy.”
Liễu Địch vẫn không có phản ứng. Gương mặt cô đờ đẫn, ánh mắt vô hồn, bờ môi không chút sắc hồng. Cả người cô đều là màu xám, cả tâm hồn cũng màu xám.
“Liễu Địch!”Giáo sư Tô cắn môi. Ông biết việc cấp thiết nhất bây giờ là đánh thức ý thức đang mê man của Liễu Địch. Ông tính mạo hiểm một lần: “Liễu Địch, con còn nhớ buổi sáng hôm nay xảy ra chuyện gì không?”
Liễu Địch dường như bị chấn động, khóe miệng cô giật giật. Từ sáng đến giờ chỉ có hơn mười tiếng đồng hồ mà như mấy vạn năm trôi qua. Cô cúi đầu, trầm mặc không lên tiếng.
“Liễu Địch!” Khóe mắt Giáo sư Tô lấp lánh ánh lệ. Ông cố gắng đè nén nỗi đau xé lòng, không một chút lưu tình nói tiếp: “Hải Thiên của chúng ta, thầy Chương của con... đã không còn trên cõi đời này! Sáng nay con nhận được điện báo, con còn nhớ nội dung của tờ điện báo không?”
Liễu Địch rùng mình. Trong đầu cô vụt qua dòng chữ lạnh lùng và tàn nhẫn: “Chương Ngọc đã qua đời vì tai nạn giao thông, mau về gấp.”
Toàn thân run rẩy, Liễu Địch cắn chặt môi. Sau đó, cô giơ hai tay ôm đầu, bờ vai mảnh khảnh run bần bật, nhưng cô vẫn không mở miệng nói chuyện. Hiện thực quá tàn nhẫn, cô vô thức cự tuyệt tỉnh lại.
“Liễu Địch!” Cuối cùng Giáo sư Tô hét lên một tiếng đầy tuyệt vọng. “Con mau tỉnh lại đi! Ta đã mất một đứa con trai, ta không thể lại mất đi đứa con gái!”
Toàn thân Liễu Địch đột nhiên co giật. Cô đứng dậy, người lảo đảo. Bà Tô vội lao đến đỡ cô. Nhưng đúng lúc này, cổ họng Liễu Địch bỗng dâng lên vị ngòn ngọt, tựa hồ có thứ gì đó trào ra. Cô vừa há miệng, một ngụm máu từ miệng cô phun ra ngoài. Tấm ga trải giường trắng toát lập tức vấy đầy máu đỏ.
Giáo sư Tô hốt hoảng, ông cảm thấy không thể đứng vững được nữa. Ông ngồi phịch xuống giường, trong lòng hối hận vô cùng, ông không ngờ lại khiến Liễu Địch bị kích động đến mức thổ huyết. Trong khi đó, bà Tô hét lên: “Y tá! Y tá!”
Cô y tá chạy vội đến, cầm một mảnh vải lau vết máu trên miệng Liễu Địch. Liễu Địch gạt tay cô y tá. Cô ngẩng đầu, trên miệng vẫn còn vệt máu, đôi mắt đen mở to hết cỡ nhìn vợ chồng Giáo sư Tô chằm chằm. Sau đó, trên gương mặt cô dần xuất hiện chút biểu cảm, hơi thở dần gấp gáp, viền mắt ngân ngấn nước. Cuối cùng, Liễu Địch cũng bật khóc. Cô lao vào lòng Giáo sư Tô, vừa khóc vừa nói: “Giáo sư Tô, thầy Chương mất rồi! Thầy đã mất rồi...”
Ba ngày sau, Liễu Địch cùng Giáo sư Tô Văn ngồi tàu hỏa về quê.
Liễu Địch vẫn còn rất yếu. Chỉ trong ba ngày ngắn ngủi, cô đã gầy đi trông thấy, thần sắc vô cùng tiều tụy. Gương mặt cô trắng bệch, đôi mắt vừa to vừa đen, nhưng đáy mắt thể hiện quyết tâm bất chấp tất cả.
Bác sĩ khuyên Liễu Địch nên nằm một chỗ nghỉ ngơi, nhưng thái độ của cô rất kiên quyết, không ai có thể ngăn cản. Cô nói với vợ chồng Giáo sư Tô: “Thật ra bây giờ chúng ta trở về cũng đã quá muộn.” Một câu nói đánh gục hai ông bà. Thế là Giáo sư Tô mua vé tàu, cùng cô trở về quê.
Trên tàu hỏa, Liễu Địch ngồi bất động. Thân hình gầy guộc của cô lọt thỏm trong chiếc ghế rộng, tưởng như mỗi cơn gió từ ngoài cửa sổ thổi vào cũng có thể đẩy cô ngã. Liễu Địch mím chặt môi, nhìn ra ngoài cửa sổ như đang ngẫm nghĩ điều gì đó. Ba ngày nay, cô luôn chìm trong suy tư. Mỗi lần tàu hỏa lắc lư, bờ vai nhỏ bé của cô lại run rẩy.
“Giáo sư Tô!” Liễu Địch đột nhiên mở miệng, đây là câu nói đầu tiên của cô kể từ khi lên tàu. “Giáo sư thử nói xem, có đúng là thầy Chương gặp tai nạn giao thông không?”
Giáo sư Tô kinh ngạc nhìn Liễu Địch. “Sao thế, con nghi ngờ điều gì à?”
Liễu Địch gật đầu. “Thính lực của thầy Chương rất tốt, thầy có thể phân biệt tiếng động của các loại xe, có thể phán đoán chuẩn xác tốc độ của ô tô, chưa từng nhầm lẫn. Thầy qua đường vốn chẳng cần giúp đỡ. Thầy thường bị đánh bại bởi những vật tĩnh hơn.”
“Liễu Địch!” Giáo sư Tô nói. “Điều này không liên quan đến tai nạn giao thông. Phần lớn những người gặp tai nạn ô tô trên thế giới này đều không phải người mù.”
Đúng vậy, người mắt sáng còn bị xe đâm nữa là người khiếm thị. Nhưng những tiếng thì thầm to nhỏ, tiếng cười xấu xa và thái độ trầm mặc bất thường của thầy Chương luôn quanh quẩn trong đầu óc Liễu Địch. Điều này liệu có liên quan đến cái chết của thầy không?
Giáo sư Tô như nhận ra tâm tư của Liễu Địch, ông nói bằng giọng thành khẩn: “Liễu Địch, Hải Thiên là một đứa bé kiên cường. Nó rất yêu cuộc sống, yêu sinh mạng của mình. Nếu không phải là tai nạn, nó sẽ không dễ dàng từ bỏ việc đấu tranh chống lại số mệnh.”
Liễu Địch im lặng. Đúng vậy, cô biết rất rõ điều này. Tuy nhiên... cô không thể nghĩ tiếp. Nghĩ tới cố nhân khiến cô đau đớn đến không thở nổi. Dù sao khi trở về trường, tất cả sẽ rõ ràng. Liễu Địch từ bỏ việc suy đoán, lặng lẽ lắng nghe âm thanh đơn điệu của tàu hỏa. Cô nghe mãi, nghe mãi, âm thanh đó bỗng biến thành tiếng hát trầm ấm, chứa chan tình cảm của thầy Chương:
Tôi chết đi vì cái chết,
Tôi ra đời vì cái chết,
Tôi chết đi vì sự ra đời.”
Rời nhà ga, Giáo sư Tô và Liễu Địch đi thẳng đến trường học.
Hiệu trưởng Cao đón họ ở cổng trường. Hai tháng không gặp, ông như già đi đến mười tuổi. Nhìn thấy Giáo sư Tô đỡ Liễu Địch từ từ tiến lại gần, hiệu trưởng Cao bước tới, nắm tay Liễu Địch, cất giọng đau xót: “Liễu Địch, thầy không thể giữ thầy Chương lại cho em.”
Liễu Địch không để ý đến hiệu trưởng Cao, thậm chí không nhìn ông. Ánh mắt cô dừng lại ở toàn nhà cũ kĩ phía bắc, ô cửa sổ nhỏ trên tầng bốn. Cô nhẹ nhàng rút tay ra khỏi tay Giáo sư Tô. Đột nhiên, cơ thể cô không còn mềm nhũn, hai chân cô không còn run rẩy. Cô từng bước tiến về phía trước, ánh mắt từ đầu đến cuối không rời khỏi ô cửa sổ nhỏ.
Sau đó, Liễu Địch đi tới chân cầu thang của tòa nha phía bắc. Bên cầu thang có một cậu bé khoảng mười sáu, mười bảy tuổi nhìn cô chăm chú. Liễu Địch không để ý, cô chỉ ngẩn ngơ dõi mắt lên cầu thang xập xệ. Tiếp theo, cô đột nhiên chạy lên cầu thang, chạy rất nhanh, thậm chí không bám vào tay vịn. Giáo sư Tô và hiệu trưởng Cao gọi cô, cô mặc kệ. Người ở bên cạnh kinh ngạc nhìn cô, cô cũng mặc kệ. Cô như quay về ba năm trước, lại là một nữ sinh bận rộn. Trong đầu cô chỉ có một ý nghĩ: “Nhanh lên, đừng để lỡ việc chấm bài của thầy Chương.”
Liễu Địch chạy một mạch lên tầng bốn, đến trước cửa văn phòng quen thuộc. Cô dừng bước, lau mồ hôi trên trán và điều hòa lại nhịp thở theo thói quen. Sau đó, cô giơ tay, gõ nhẹ lên cánh cửa một tiếng.
Bốn bề im lặng. Liễu Địch không nghe thấy giọng nói lạnh nhạt và lịch sự quen thuộc: “Mời vào!”
Cô lại gõ cửa, vẫn là sự tĩnh mịch đáng sợ.
Bàn tay Liễu Địch run run, đôi chân cô mềm nhũn, trái tim cô run rẩy. Cô không dám đẩy cánh cửa đó, không muốn đẩy chúng ra. Cô cố chấp gõ cửa lần thứ ba.
Xung quanh không một tiếng động, chỉ có sự yên tĩnh chết chóc. Hiệu trưởng Cao và Giáo sư Tô không biết đã đứng sau lưng Liễu Địch từ lúc nào. Họ trầm mặc chứng kiến cảnh tượng này, mắt ngấn nước.
Bàn tay Liễu Địch run rẩy. Cô đột nhiên nhớ đến buổi tối tuyết rơi, nhớ đến cảnh cô dò dẫm trong bóng đêm đến căn phòng này. Bây giờ, cô lại một lần nữa cảm thấy sự cô độc và nỗi sợ hãi đó. Không biết lấy đâu ra dũng khí, Liễu Địch đẩy cửa, bước vào phòng.
Căn phòng vẫn không thay đổi. Bàn làm việc, hai chiếc ghế đối diện nhau, bình giữ nhiệt, cốc trà bằng sứ màu trắng, lọ mực đỏ, chậu hoa nhài và một chồng vở bài tập xếp ngay ngắn. Tất cả vẫn không thay đổi, như thể ngày hôm qua Liễu Địch mới rời khỏi nơi này, hôm nay lại quay về. Tất cả không thay đổi, tất cả vẫn như cũ, chỉ là chủ nhân của căn phòng không còn nữa, thầy vĩnh viễn không thể quay về.
Liễu Địch đờ đẫn nhìn những đồ vật vô cùng quen thuộc, trong đầu cô đột nhiên xuất hiện câu thơ: “Vật thị nhân phi sự sự hưu, Dục ngữ lệ tiên lưu.[1]” Nhưng cô không thể thốt ra lời, cũng không thể rơi lệ, chỉ biết ngây ngốc đứng đó.
Dịch nghĩa: “Vật còn ở đó, người ở nơi đâu. Muốn nói mà dòng lệ tuôn trào.” Trích trong bài Vũ Lăng xuân của Lý Thanh Chiếu, đời Tống.
Sau đó, Liễu Địch tìm một mảnh vải, cô bắt đầu lau bụi trên bàn làm việc. Bàn làm việc phủ một lớp bụi mỏng, có lẽ ba, bốn ngày không ai động đến nó. Lau bàn xong, Liễu Địch lại lau chùi ghế ngồi, lau cốc trà, bình giữ nhiệt... Cô lau chùi rất tỉ mỉ, như thầy Chương vẫn còn ở văn phòng, thầy chỉ đi ra ngoài một lát, sẽ trở về ngay lập tức.
Hiệu trưởng Cao và Giáo sư Tô ở bên cạnh, nước mắt giàn giụa. Giáo sư Tô đột nhiên bước tới, nắm tay Liễu Địch. “Liễu Địch, con hãy khóc đi! Khóc một trận đi con!”
Liễu Địch không khóc, nước mắt cô đã cạn. Cô giật khỏi tay Giáo sư Tô, đi lau cửa sổ. Những việc này cô làm suốt ba năm, đã trở thành thói quen. Sau đó, cô chú ý đến chậu hoa nhài trên bệ cửa sổ. Hoa nhài không được tươi tốt, lá đã héo úa. Liễu Địch đột nhiên nghe thấy giọng nói trầm ấm, chua xót thấp thoáng bên tai: “Những ngày tháng sau này, chỉ nó nó ở bên cạnh tôi.”
Liễu Địch giật mình, bỗng kêu lên một tiếng: “Thầy Chương, thầy ở đâu?” Không, không có thầy Chương, đây chỉ là ảo giác của cô mà thôi. Hoa nhài à, mày có biết không, người cần mày ở bên cạnh đã ra đi trước mày. Có phải vì thế mày mới héo úa? Liễu Địch đột nhiên cảm thấy sống mũi cay cay, cảm xúc tê liệt đã bắt đầu hồi sinh. Cô nhìn chậu hoa nhài chăm chú, đột nhiên phát hiện, trên cành cây yếu ớt, khẳng khiu xuất hiện một nụ hoa trắng.
Phát hiện này mang đến một sức mạnh to lớn, làm chấn động sợi dây thần kinh tê liệt của Liễu Địch. Hoa nhài nở hoa vào tháng Mười một, lẽ nào hoa nhài cũng là sinh vật có tình, nó đang dùng màu trắng thuần khiết để tưởng nhớ thầy Chương?
Liễu Địch cảm thấy trái tim cô vỡ vụn. Thầy Chương đã đi thật rồi, đi thật rồi! Ba ngày qua, mặc dù biết rõ sự thật nhưng tiềm thức của cô vẫn kháng cự. Cô hy vọng xuất hiện kỳ tích, nói cho cô biết tất cả không phải sự thật. Tuy nhiên kỳ tích không xuất hiện. Đến lúc này, cô mới tin và chấp nhận sự thật. Trái tim cô và mỗi tế bào trên người cô đều đau đớn vô ngần, mặt cô giàn giụa nước mắt.
Cuối cùng, Liễu Địch ôm chậu hoa nhài, bật khóc nức nở. Tiếng khóc của cô như xé nát tâm can. Mọi nỗi đau đớn và bi thương tích tụ trong ba ngày giờ bộc phát theo tiếng khóc của cô.
Giáo sư Tô và hiệu trưởng Cao lặng lẽ khóc cùng Liễu Địch. Mấy ngày nay, trong lòng họ cũng tích tụ quá nhiều đau khổ. Họ cũng cần dùng tiếng khóc để giải tỏa tâm trạng của mình.
Một lúc lâu sau, tiếng khóc của Liễu Địch nhỏ dần rồi tắt hẳn. Cô ngẩng đầu, phát hiện đầu óc mình đã tỉnh tảo hơn nhiều. Trái tim cô vẫn đau đớn nhưng lý trí bị đau thương vùi lấp đã từ từ quay trở lại. Cô lại một lần nữa quan sát chậu hoa nhài vừa đánh thức lý trí của cô. Liễu Địch đột nhiên phát hiện, cây hoa đã được thay chậu khác. Chậu đất sét trước kia được thay bằng chậu cao lanh. Không, không thể, tuyệt đối không thể! Cây hoa nhài héo úa đến mức này, trừ khi... Liễu Địch lập tức chạy đến trước mặt hiệu trưởng Cao, cất giọng nghiêm túc: “Thầy mau nói cho em biết, thầy Chương qua đời như thế nào?”
Mặt hiệu trưởng Cao biến sắc trong giây lát, ông trả lời: “Thầy Chương đúng là chết vì tai nạn giao thông, đó là sự thật!”
“Em không tin!” Liễu Địch cười nhạt. “Trước khi xảy ra tai nạn thì sao? Lẽ nào thầy Chương không gặp phải chuyện gì?”
“Điều này...” Sắc mặt hiệu trưởng Cao càng tái nhợt. Ông nói ấp úng: “Thầy Chương chết vì tai nạn giao thông... Sự việc không liên quan đến người khác...”
“Không đúng, cái chết của thầy Chương không những liên quan đến người khác, mà còn có quan hệ rất lớn!” Một giọng nói lanh lảnh từ bên ngoài vọng vào, ngân vang trong căn phòng nhỏ.
Chương 17
Ba người giật mình kinh ngạc, cùng quay đầu về phía cửa phòng. Một cậu bé tầm mười sáu, mười bảy tuổi từ bên ngoài đi vào. Cậu bé tương đối cao, gương mặt đỏ ửng, mở to mắt quan sát từng người trong phòng. Ánh mắt cậu thẳng thắn và rắn rỏi.
Liễu Địch nhìn cậu bé không chớp mắt, cô cảm thấy cậu ta nhìn có vẻ quen quen. Cậu bé chú ý ánh mắt của Liễu Địch nên lên tiếng trước: “Em biết chị chính là Liễu Địch. Vừa rồi em đã nhìn thấy chị khi chị đi lên cầu thang, vì thế em đi theo chị lên đây.”
Đúng rồi, ban nãy khi Liễu Địch chạy lên cầu thang, có một cậu bé cứ nhìn cô chằm chằm, hóa ra là cậu ta. Nhưng cậu ta là ai? Không đợi Liễu Địch lên tiếng, hiệu trưởng Cao nghiêm giọng nói: “Văn Tuấn, em lên đây làm gì?”
Văn Tuấn không bận tâm đến lời của hiệu trưởng Cao, cậu nói với Liễu Địch: “Em xin tự giới thiệu. Em tên là Văn Tuấn, học sinh lớp 10-1, cũng là người đại diện của thầy Chương. Một ngày trước khi thầy Chương qua đời và buổi sáng hôm thầy qua đời, em đều ở bên cạnh thầy, tận mắt chứng kiến nhiều chuyện. Em vốn không định nói cho chị biết, nhưng nhìn thấy cảnh vừa rồi, em nghĩ chị có quyền biết những sự việc này. Chị có muốn nghe không?”
Người đại diện? Liễu Địch ngẩn người. Thời gian trước, từ này là cách xưng hô thuộc về cô. Cô liếc qua hiệu trưởng Cao, ánh mắt ông đầy vẻ lo lắng và tự trách. Lẽ nào... Liễu Địch mím môi, nói với Văn Tuấn: “Chỉ cần là sự thật, dù tàn khốc đến thế nào, chị cũng muốn nghe.”
Văn Tuấn nhíu mày nhìn Liễu Địch, ánh mắt cậu vụt qua một tia khâm phục. Sau đó cậu bắt đầu kể: “Đầu tiên, em xin nói rõ, em không thích thầy Chương. Cũng giống như các bạn trong lớp, em chỉ thích nghe thầy giảng bài chứ không thích con người thầy. Chúng em cũng muốn yêu quý thầy, nhưng thầy khiến chúng em không yêu quý nổi. Hơn nữa, em phát hiện thầy cũng không thích em. Thầy không cho em đón thầy sau khi tan học, không cho em tiễn thầy ra bến xe buýt. Thầy chỉ cho phép em giúp thầy làm công việc nhận xét và chấm điểm bài văn vào buổi trưa. Em nghĩ, nếu không phải vì bất đắc dĩ, chắc thầy cũng không để em làm việc này. Mỗi buổi trưa tới giúp thầy chấm bài, quả thật dùng từ “ngồi trên đống lửa” cũng không quá đáng. Bởi em cảm nhận rõ thầy không thích em ngồi vào chiếc ghế kia, thậm chí không thích em ở trong căn phòng này. Vì vậy, việc chấm bài văn đối với em là một cực hình. Thứ duy nhất thầy thích có lẽ chỉ là chậu hoa nhài trên bệ cửa sổ. Em thường thấy thầy dò dẫm đi lấy nước về tưới cho cây hoa. Mặc dù tưới ra ngoài một nửa nhưng thầy vẫn không cho người khác giúp thầy. Mọi người đều nói, thầy thích chậu hoa nhài là bởi chậu hoa đó do chị tặng thầy.”
Liễu Địch không lên tiếng, cô biết đây là sự thật. Đáng sợ hơn, mọi người cũng biết rõ sự thật này. Liễu Địch chợt cảm thấy toàn thân mất hết sức lực. Giáo sư Tô liền đỡ cô ngồi xuống ghế.
“Tin đồn giữa chị và thầy Chương...” Văn Tuấn liếc cô một cái rồi nói tiếp: “...đã ầm ĩ từ lâu, không ai là không biết. Mọi người đều bàn tán sôi nổi, đa phần là những lời khó nghe. Xin thứ lỗi em không thể kể ra lời đồn ở đây, bởi sau khi chứng kiến cảnh tượng vừa rồi, em cảm thấy những tin đồn đó hoàn toàn vô căn cứ. Nhưng lúc đó chúng em không có năng lực phán đoán, ai nấy đều nửa tin nửa ngờ. Hơn nữa, nhiều thầy cô cũng khẳng định, nên chúng em không thể không tin. Nói thật, thanh danh của chị và thầy Chương chẳng ra sao cả. Tuy nhiên, thầy Chương không hề hay biết điều đó. Thứ nhất, bởi thầy không tiếp xúc với mọi người. Thứ hai, thầy thanh cao như vậy, ai dám nói năng linh tinh trước mặt thầy? Mọi người chỉ bàn luận chuyện của chị và thầy sau lưng thầy. Họ nói chị và thầy rất kinh khủng.”
Liễu Địch cuộn chặt hai bàn tay lại. Tình cảm giữa cô và thầy Chương thuần khiết như vậy, trong mắt người khác nó biến thành cái gì? Khó nghe như thế nào? Kinh khủng ra sao? Cô không dám hỏi, cũng không muốn hỏi. Trong giây phút này, cô nhận ra con người là loài động vật vô cùng tàn nhẫn.
Văn Tuấn thở dài rồi nói tiếp: “Sự việc xảy ra vào tiết ngữ văn sáng thứ Sáu. Sau khi trả vở bài tập làm văn cho cả lớp, Khiên Khiên phát hiện ra bài văn của cậu ta bị thầy Chương cho 0 điểm...”
“Khiên Khiên là ai?” Liễu Địch hỏi.
“Cậu ta ngồi cùng bàn với em, là con gái của chủ nhiệm Ủy ban Giáo dục thành phố, đứa con cưng của nhà trường, bảo bối của các thầy cô giáo, cô công chúa nhỏ không ai dám động vào.” Văn Tuấn nói một hơi rồi liếc qua hiệu trưởng Cao. Xem ra, nữ sinh tên Khiên Khiên không được lòng các bạn.
“Em đã đọc bài văn của Khiên Khiên.” Văn Tuấn nói tiếp. “Thầy Chương chỉ nghe đoạn mở đầu liền cho 0 điểm. Hơn nữa, thầy còn phê năm chữ: “Đạo văn đáng xấu hổ.” Nghe nói thời cấp hai, môn Ngữ Văn của Khiên Khiên luôn đạt điểm rất cao. Lên cấp ba, gặp phải thầy Chương, không những điểm số của cậu ta rớt xuống, mà còn chưa bao giờ nhận được lời khen ngợi, cậu ta bất mãn với thầy Chương đã lâu. Bây giờ, thầy Chương còn cho cậu ta “0 điểm”, lại nói cậu ta “đáng xấu hổ”. Đây là điều Khiên Khiên không thể chịu đựng nổi. Cậu ta cầm bài văn, đi tìm thầy Chương lý luận, bắt thầy Chương đưa chứng cứ, bằng không, điều đó có nghĩa là thầy đặt điều, hủy hoại danh dự của cậu ta. Thầy Chương bị ép buộc, cuối cùng cũng nói ra tác giả của bài viết, thậm chí cả thời gian đăng bài đó. Em không nhớ rõ, hình như bài viết đăng trên một cuốn tạp chí từ mấy năm trước. Tên tác giả... À đúng rồi, tên là Hải Thiên.”
“Trời ạ!” Liễu Địch và Giáo sư Tô đồng thanh kêu lên. Văn Tuấn nhìn họ bằng ánh mắt kỳ lạ, không hiểu tại sao họ lại kinh ngạc như vậy. Nhưng cậu không thắc mắc, mà kể tiếp: “Tóm lại, lúc đó Khiên Khiên chỉ biết há hốc miệng. Chứng cứ của thầy Chương khiến cậu ta á khẩu. Từ lúc vào trường, cậu ta được các thầy cô giáo coi như viên ngọc trên tay, chưa bao giờ phải chịu đựng sự xỉ nhục như vậy. Thế là cậu ta thẹn quá hóa giận, đột nhiên thốt ra một cậu: “Thầy Chương, thầy chỉ bắt nạt những người như chúng em mà thôi. Nếu Liễu Địch làm vậy, liệu thầy có cho chị ta điểm 0 không?”
Liễu Địch giật mình thảng thốt.
“Sắc mặt thầy Chương tái nhợt. Thầy cuộn hai bàn tay lại, mím chặt môi, cố gắng kiềm chế. Sau đó, thầy bình tĩnh trả lời: “Cô ấy cũng từng bị tôi cho 0 điểm bài làm văn.” Mọi người đều đờ người. Chẳng ai nghĩ ra nguyên nhân tại sao bài văn của chị lại bị thầy Chương cho 0 điểm. Khiên Khiên một lần nữa cảm thấy thất bại. Cậu ta chợt bướng bỉnh hét lên: “Nhưng thầy từng dụ dỗ chị ta!”...”
Ầm một tiếng, nắm đấm của Liễu Địch đập mạnh xuống mặt bàn. Cô không thể chịu đựng sự xỉ nhục từ câu nói này. Người cô lảo đảo, tựa hồ sắp ngã. Giáo sư Tô vội đỡ cô từ phía sau. Văn Tuấn giật mình, cậu hết nhìn Liễu Địch lại nhìn Giáo sư Tô, không biết có nên kể tiếp. Liễu Địch định thần, mặt cô cắt không còn giọt máu. Nhưng cô cất giọng kiên quyết: “Em kể tiếp đi!”
“Cậu ta vừa nói câu đó, cả lớp chúng em đều sửng sốt. Nhưng Khiên Khiên cứ như bị ma nhập, tiếp tục hét lớn: “Thầy Chương, thầy bị mù thật sao? Thầy bị mù mà thầy biết nữ sinh nào xinh đẹp nhất trường, sau đó thầy cho người ta làm đại diện của thầy rồi quyến rũ người ta. Hai người ở trong văn phòng đóng chặt cửa tình tình tứ tứ, ôm ôm ấp ấp ở bến xe, ở nhà thầy càng không biết làm ra chuyện bẩn thỉu gì. Thầy tưởng thầy có thể che mắt thiên hạ hay sao? Lẽ nào thiên hạ cũng đui mù giống thầy? Là một nhà giáo, vậy mà thầy đi dụ dỗ học sinh. Thầy có tư cách gì mà đứng ở đây nói tôi “đáng xấu hổ”? Thật ra, kẻ đáng xấu hổ nhất là thầy và Liễu Địch. Thầy và chị ta, một người dụ dỗ mê hoặc, một người tự nguyện lao vào vòng tay của thầy giáo mình; một kẻ hạ lưu đê tiện, còn một kẻ vô liêm sỉ; một kẻ ra vẻ đạo mạo, còn một kẻ giả vờ đứng đắn...” Sau đó, một tiếng “bốp” vang lên, thầy Chương cho Khiên Khiên một bạt tai!”
“Tát rất đúng!” Giáo sư Tô lên tiếng. Nếu Khiên khiên có mặt ở đây, chắc ông cũng lập tức cho con bé một bạt tai. Liễu Địch không lên tiếng, sắc mặt cô trắng bệch đến đáng sợ, cô cảm thấy nghẹt thở. Những lời vô căn cứ này tại sao có thể lan truyền, sao có thể nói ra một cách tàn nhẫn như vậy?
Văn Tuấn nhìn Liễu Địch bằng ánh mắt đồng tình. “Liễu Địch, chị đừng tức giận. Thật ra, những lời này sớm muộn cũng có người nói, Khiên Khiên chỉ là người đầu tiên dám thốt ra miệng mà thôi.”
Liễu Địch rùng mình, cô cảm thấy khí lạnh lan tỏa tới mỗi tế bào trên thân thể. Cô đột nhiên hiểu ra, tình cảm của cô và thầy Chương không được xã hội thừa nhận, thậm chí còn bị bóp méo, xuyên tạc và phỉ báng. Lúc cô vẫn chưa ý thức được tình yêu, dư luận đã hủy diệt tình cảm của cô. Đến lúc này, Liễu Địch thật sự lĩnh ngộ mặt tàn khốc của xã hội.
Văn Tuấn thở dài, tiếp tục câu chuyện: “Cái bạt tai của thầy Chương vừa mạnh vừa chuẩn xác, khiến một bên má Khiên Khiên sưng vù. Lần đầu tiên em chứng kiến bộ dạng phẫn nộ của thầy. Sắc mặt thầy đanh lại, hơi thở gấp gáp, giống như một con bò đực bị chọc giận. Thầy nghiến răng nói từng từ: “Trước khi tôi cho em cái tát thứ hai, em mau cút xéo khỏi phòng học này!” Thầy Chương không nói nhiều, nhưng mỗi từ như phun ra ngọn lửa, mang uy lực có thể thiêu cháy tất cả. Khiên Khiên sững sờ, cậu ta không ngờ mình lại bị đánh. Một lúc sau, cậu ta mới có phản ứng. Nhưng đứng trước thầy Chương đang nổi giận, cậu ta không dám mắng thêm một câu. Cuối cùng, cậu ta gào khóc: “Chương Ngọc, thầy cứ đợi đấy!” Nói xong, cậu ta chạy ra khỏi phòng học. Có thể tưởng tượng chuyện Khiên Khiên bị thầy Chương đánh nhanh chóng lan ra toàn trường. Buổi trưa, em đến văn phòng thầy Chương sớm hơn thường lệ. Không hiểu tại sao em thấy hơi lo lắng cho thầy. Em biết câu “thầy cứ đợi đấy” của Khiên Khiên không phải nói chơi, còn tại sao cậu ta không phải nói chơi, bản thân em cũng không rõ. Thầy Chương không giống như mọi ngày, thầy không phải sợ hãi, mà có nhiều tâm sự, tựa hồ có gánh nặng trong lòng. Thầy không chấm điểm bài tập làm văn ngay mà ngồi trầm tư rất lâu. Sau đó, thầy đột nhiên hỏi em: “Văn Tuấn, em hãy nói thật cho thầy biết, tin đồn về thầy mà Khiên Khiên nói ngày hôm nay có phải đã lưu truyền một thời gian dài rồi không?” Em không ngờ thầy Chương lại tinh ý như vậy. Em chẳng có cách nào che giấu thầy, cũng không dám giấu giếm, đành nói sự thật: “Vâng ạ, lúc mới nhập học, em có nghe phong thanh một số chuyện, bây giờ đã lan truyền khắp trường, hơn nữa còn rất khó nghe.” Thầy Chương khẽ gật đầu, sắc mặt thầy nặng nề, tựa hồ lời của em chứng thực suy nghĩ trong lòng thầy. Sau đó, em và thầy bắt đầu chấm bài. Một điều khiến em rất khâm phục là, dù xảy ra chuyện lớn nhưng thầy Chương vẫn bình tĩnh nhận xét bài văn, như không hề bị ảnh hưởng. Tuy em không thích thầy nhưng không thể không kính phục dũng khí của thầy. Chấm đến quyển bài tập thứ ba, cửa văn phòng đột nhiên bị đá bật ra. Khiên Khiên và anh họ của cậu ra xuất hiện ở cửa. Anh họ của Khiên Khiên là huấn luyện viên tán thủ[1] của thành phố. Anh ta vừa xuất hiện, em biết ngay nguyên nhân vì sao. Quả nhiên, anh họ của Khiên Khiên nói: “Chương Ngọc, thằng chó, mày dám đánh em tao, mày không muốn sống phải không? Mày dám giở trò trên đầu ông nội mày. Hôm nay nếu không dạy dỗ mày, mày sẽ không biết tao là ai!” Thầy Chương liền đứng dậy. Em rất kinh ngạc khi thấy thầy không hề sợ hãi khi đối mặt với hoàn cảnh đó. Thầy đứng thẳng người, ngẩng cao đầu, cất giọng đanh thép: “Không sai, tôi đã đánh em gái của em. Là một giáo viên, tôi không nên đánh học sinh của mình, nhưng là một người có máu có thịt, tôi phải đánh em gái anh, bởi em gái anh đã lăng nhục nhân cách của tôi, đồng thời lăng nhục nhân cách và danh dự của học sinh tôi yêu quý nhất. Kẻ sĩ có thể chết, chứ không thể chịu nhục. Tôi không thể tha thứ cho người sỉ nhục tôi, càng không thể tha thứ cho người sỉ nhục học sinh của tôi. Nếu anh đánh tôi, tôi sẽ không đánh lại, bởi là một thầy giáo, tôi nên chịu sự trừng phạt. Có điều, tôi nói cho anh biết, anh đánh tôi, tôi không oán hận; tôi đánh em gái anh, tôi cũng không hối hận. Nếu anh lăng nhục tôi và học sinh của tôi, dù không phải là đối thủ của anh, tôi cũng sẽ động thủ với anh.”
[1] Môn võ tay không tự do ra đời ở Trung Quốc, chú trọng vào các dạng chiến đấu tự do thực tế.
“Nói hay lắm!” Liễu Địch và Giáo sư Tô cùng kêu lên. Giọng của hai người rất khẽ nhưng không che giấu niềm tự hào. Văn Tuấn liếc nhìn họ, đột nhiên phát hiện hai người trước mặt rất tán thưởng thầy Chương, người không được cả trường hoan nghênh. Cậu ta nói tiếp: “Đúng vậy. Lúc đó, em cũng bị chấn động, thậm chí quên cả sợ hãi. Em chợt cảm thấy thầy Chương có sức mạnh tinh thần rất hiếm gặp, điều đó khiến em cảm động. Anh họ của Khiên Khiên dường như cũng bị chí khí đường đường chính chính của thầy Chương làm cho khiếp sợ. Anh ta lặng lẽ nhìn thầy Chương vài giây rồi quay người rời khỏi văn phòng. Khiên Khiên vô cùng thất vọng, cậu ta vừa chạy đuổi theo vừa hét: “Anh, anh đã nhận lời trả thù của em. Anh đã nhận lời…”
Văn phòng lại rời vào trạng thái tĩnh lặng. Một lúc sau, em và thầy Chương đều không lên tiếng. Sắc mặt thầy vô cùng nghiêm nghị, ngoài ra còn có vẻ lo lắng và đau khổ. Thầy đột nhiên nói với em: “Văn Tuấn, hôm nay không cần chấm điểm nữa. Chỗ tôi bây giờ không còn là nơi an toàn.”
Em đột nhiên thấy rất cảm động. Có thể nói, kể từ khi làm người đại diện của thầy, đây là lần đầu tiên em cảm nhận được sự ấm áp từ thầy. Thầy đang quan tâm đến sự an nguy của em. Em cảm kích nhìn thầy rồi đi ra ngoài…”
“Sao em lại đi ra ngoài?” Liễu Địch hỏi. Nếu là cô, cô nhất định quyết không bỏ đi. Dù thầy Chương có cầm gậy đuổi, cô cũng không đi.
“Tất nhiên là em đi ra ngoài rồi. Em không phải là chị, không có tình cảm sâu nặng với thầy như chị. Nhưng lúc đó, đúng là em rất cảm động, em thấy thầy Chương không đáng ghét như trước, thậm chí bắt đầu quan tâm đến thầy. Trên sân trường tụ tập khá đông học sinh, các bạn đều bàn luận chuyện xảy ra ban sáng. Không hiểu sao bấy giờ em lại thấy phản cảm với những tin đồn mà em không mảy may nghi ngờ trước đó. Em bắt đầu hoài nghi, em nghĩ thầy Chương có thể nói ra những lời đầy khí phách như vậy, chứng tỏ quan hệ giữa thầy và chị không như tin đồn. Đáng tiếc, chỉ một mình em nghe thấy những lời nói của thầy. Em đột nhiên thấy bất an. Cảm giác này khiến em không thể tập trung vào tiết học buổi chiều. Vì vậy, sau tiết thứ nhất, em chạy vội đến văn phòng hiệu trưởng, định kể chuyện xảy ra với hiệu trưởng Cao. Nói thật, em lo thầy Chương chịu thiệt thòi.
Nhưng vừa đến cửa văn phòng, em vô tình nghe thấy hiệu trưởng Cao đang tranh cãi với một người đàn ông. Em nghe thấy người đó nói bằng giọng kích động: “Dù thế nào, thầy giáo đánh học sinh cũng là hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp, vi phạm pháp luật. Hơn nữa, dựa vào tình hình sức khỏe và học vấn của hắn, hắn không có tư cách dạy học, dù là giáo viên dạy thay cũng không đủ tư cách. Tôi thật sự không ngờ anh lợi dụng chức quyền, để một tên lưu manh dạy học ở trường này. Đúng là khôi hài, hoang đường thật đấy!” Sau đó, em nghe hiệu trưởng Cao nói: “Nhưng thầy Chương dạy rất tốt, thành tích thi đại học của khóa trước…” Hiệu trưởng Cao nói chưa hết câu, người kia đã cắt ngang: “Tôi nói cho anh biết, tên Chương Ngọc này phải cuốn xéo ngay. Hắn vốn không có tư cách đứng trên bục giảng, để hắn dạy học ba năm là quá nể hắn rồi.”Em không khỏi giật mình. Đuổi thầy Chương khỏi trường ư? Đây là điều không thể, không chỉ mình em không đồng ý, đa số các bạn trong lớp cũng sẽ không đồng ý. Chúng em rất thích bài giảng của thầy Chương, thầy giảng bài rất hấp dẫn và sinh động. Nếu từ nay về sau không được nghe thầy giảng bài, đó là điều em không thể tưởng tượng nổi. Lần đầu tiên trong đời em cảm thấy chúng em không thể mất thầy Chương, thầy rất quan trọng đối với chúng em. Em nhìn qua khe cửa mới biết, người đang nói chuyện với hiệu trưởng Cao là bố của Khiên Khiên.
Hiệu trưởng Cao trầm mặc một lát rồi trả lời: “Chủ nhiệm Hàn, tôi không thể đuổi Chương Ngọc. cậu ấy là nhân tài hiếm có, cậu ấy dạy rất tốt, học sinh thích nghe cậu ấy giảng bài. Hơn nữa, nếu cậu ấy mất công việc này, cuộc sống của cậu ấy sẽ gặp khó khăn…”
“Đủ rồi, trường học không phải là nơi cứu thế, không cần thiết phải cứu một tên mù.” Chủ nhiệm Hàn đột nhiên cất cao giọng. Sau đó, ông ta lên tiếng uy hiếp: “Hiệu trưởng Cao, anh đừng mơ bảo vệ Chương Ngọc. Nếu anh muốn giữ hắn ở lại, vậy thì anh hãy chống mắt chờ xem. Tôi có thể kiện hắn ra tòa, kiện hắn vi phạm luật Dạy học và luật Bảo vệ phụ nữ và trẻ em. Hơn nữa, tôi còn có thể nhân cơ hội này xử lý anh, vì anh đã lạm dụng chức quyền, cậy quyền mưu lợi việc riêng. Đến lúc đó, không chỉ anh và Chương Ngọc không thể giữ bát cơm, mà những chuyện xấu xa, phong lưu của Chương Ngọc cũng sẽ bị vạch trần trước dư luận.”.”
Liễu Địch cảm thấy cô vừa bị giáng một đòn trí mạng, tựa hồ một viên đạn bắn trúng trái tim cô. Cô đột nhiên nhớ đến câu nói của thầy Chương: “Thế giới của người mù quá nặng nề? Em có thể giúp được bao lâu?” Bây giờ, cô đã hiểu hàm nghĩa thực sự của từ “nặng nề”. Nó không chỉ đến từ bản thân người mù, mà nó còn đến từ bản thân người mù, mà nó còn đến từ con người, từ xã hội, từ mọi mặt của cuộc sống. Nó không chỉ nặng nề mà con mạnh đến mức không thể đánh bại. Nó không chỉ kéo thầy Chương, mà kéo những người có liên quan đến thầy, như cô và hiệu trưởng Cao xuống vực sâu không đáy.
“Chủ nhiệm Hàn nói xong liền đi khỏi phòng thầy hiệu trưởng. Hiệu trưởng Cao đi sau tiễn ông ta. Sắc mặt hiệu trưởng Cao rất tệ, bàn tay thầy cuộn chặt thành nắm đấm. Không hiểu tại sao em bỗng cảm thấy bố con Khiên Khiên đúng là ỷ thế ức hiếp người. Nhưng em có thể làm gì? Hơn nữa, bố Khiên Khiên nói đúng, ông ta hoàn toàn có thể đuổi thầy Chương khỏi trường. Em nghĩ, việc duy nhất em có thể làm bây giờ là báo tin cho thầy Chương, để thầy tìm cách. Nhưng em vừa đi đến chân cầu thang, đúng lúc ông Lý và thầy Chương đi xuống. Một bạn học ở bên cạnh nói cho em biết, thầy Chương đi nghe điện thoại của chị.”
Liễu Địch mím chặt môi, cú điện thoại của cô đến thật không đúng lúc.
“Nghe tin này, em vội chạy đến phòng văn thư. Khi tới nơi, em vô cùng sửng sốt, phòng văn thư đã bị mọi người vây kín, ai nấy đều thì thầm bàn luận, ánh mắt đầy vẻ bí hiểm, giống như đang chuẩn bị xem một màn kịch hay. Không hiểu tại sao cảnh tượng trước mắt khiến em chợt nghĩ đến tình tiết “dân chúng chờ xem chặt đầu” mà Lỗ Tấn miêu tả trong tiểu thuyết của ông. Thầy Chương nhanh chóng đi tới nơi. Ngoài bờ môi thầy trắng bệch, em không nhìn ra bất cứ biểu cảm khác thường nào khác. Vừa thấy thầy, tiếng bàn tán biến mất, mọi người tự động tránh sang hai bên, nhường lối cho thầy. Thầy Chương cảnh giác dừng bước, tựa hồ phát hiện ra điều gì đó. Sau đó, thầy đi vào phòng văn thư. Mọi người vây kín phòng văn thư, ai nấy đều giống con thú rình mồi, nghển cổ chờ đợi mỗi câu nói, mỗi cử chỉ của thầy Chương…”
Trái tim Liễu Địch như bị mũi dao đâm một nhát, đau đến mức không nói thành lời. Nghi hoặc trong lòng cô cuối cùng cũng có lời giải đáp. Tiếng xì xào bàn tán, tiếng cười không mang ý tốt và sự trầm mặc của thầy Chương, bây giờ cô đã hiểu nguyên nhân. Liễu Địch ngước mắt nhìn trần nhà, nước mắt chảy dài trên gò má, từng giọt lặng lẽ rơi xuống. Vì cô, vì danh dự và sự trong sạch của cô, vì không để người khác nắm được điểm yếu, thầy Chương đã phải cố gắng đè nén tình cảm phức tạp cuộn trào trong lòng. Khi Liễu Địch bày tỏ tình cảm với thầy, cô không hề hay biết, trái tim thầy đau đớn nhường nào, chua xót đến mức nào, bởi thầy không thể thổ lộ một câu với người thầy yêu thương.
“Thầy Chương nghe điện thoại nhưng không nói một câu. Mọi người chỉ nhìn thấy bóng lưng bất động giống như một tảng băng của thầy. Sau đó, thầy buông điện thoại, chậm rãi đi về tòa nhà phía bắc, gương mặt thầy vẫn không chút biểu cảm. Mọi người thất vọng tản đi chỗ khác. Chỉ cỏ em đi theo thầy Chương về văn phòng. Thầy Chương đi rất chậm, đến cửa văn phòng, thầy chống tay lên bờ tường, đứng một lúc rồi mới đi vào bên trong. Trong lòng em thấy rất mâu thuẫn, em muốn báo với thầy những điều bố Khiên Khiên uy hiếp, nhưng em lại phân vân không biết có nên nói hay không. Vì vậy, khi đi đến cửa phòng, em đã dừng ở bên ngoài. Sau đó, em đột nhiên nghe thấy một tiếng hét thê lương từ văn phòng truyền ra. Đó không phải là tiếng người kêu, mà là tiếng thét của một con sư tử đang bị thương. Tiếng thét tuyệt vọng và đáng sợ đó ngân vang trên hành lang. Em sợ chết khiếp, vội vàng đẩy cửa đi vào. Kết quả, em nhìn thầy Chương ngồi bệt dưới đất, hai tay cầm mảnh vỡ của chậu hoa nhài, gương mặt rúm ró, đau khổ và vô cùng tuyệt vọng. Trước mặt thầy, cây hoa nhài không biết bị ai nhổ cả gốc, xác xơ nằm lẫn trong đống đất tung tóe dưới nền nhà.”
“Á…” Từ trái tim đau khổ của Liễu Địch phát ra tiếng kêu kinh hoàng. Cô cảm thấy quả tim yếu ớt của cô đập liên hồi, như có đàn ngựa từ lồng ngực muốn nhảy ra ngoài. Máu trong cơ thể cô như bị tắc nghẽn. Gương mặt cô trắng bệch, bờ môi tím tái, trán đổ đầy mồ hôi lạnh, lồng ngực như có tảng đá đè nặng khiến cô không thở nổi. Cô lảo đảo, ngã vật về phía sau. Giáo sư Tô lập tức đỡ lấy cô, hoảng hốt kêu to: “Liễu Địch, Liễu Địch! Con hãy cố chịu đựng!”
“Hãy nói cho con biết, hãy nói cho con biết…” Liễu Địch lẩm bẩm, ánh mắt cô hoảng sợ và bất lực. “Nói cho con biết, tại sao họ lại tàn nhẫn như vậy, tại sao? Thầy Chương tuy cao ngạo và lạnh lùng nhưng thầy chưa từng làm tổn thương bất cứ người nào. Tại sao họ lại hận thầy như vậy? Tại sao họ lại đối xử với thầy như vậy? Tại sao họ lại tàn nhẫn, bất chấp thủ đoạn mà xúc phạm thầy như vậy?”
Hiệu trưởng Cao rơi lệ, Giáo sư Tô rơi lệ, thậm chí khóe mắt Văn Tuấn cũng lấp lánh ánh lệ. Hiệu trưởng Cao nắm tay Liễu Địch, nói nhỏ: “Trên thế giới này, nếu mỗi câu hỏi “tại sao” đều có đáp án thì cuộc sống sẽ đơn giản rất nhiều. Nhưng xã hội phức tạp, cuộc sống phức tạp, nhân sinh cũng phức tạp. Một khi đã phức tạp, sẽ tồn tại sự tàn nhẫn và độc ác. Thậm chí, nhiều người cho đến lúc kết thúc sinh mạng cũng không biết bản thân từng gây tổn thương cho người khác một cách tàn nhẫn. Đố kỵ, ích kỷ, hư vinh, yếu đuối… là nhược điểm phổ biến trong tính cách con người. Nó khiến một số người gây tổn hại đến người khác một cách vô tình. Ngoài ra, việc khoanh tay đứng nhìn, thích xem trò vui, thêm thắt đặt điều, bo bo giữ mình và cái gọi là “lòng tốt” đều khiến con người bất giác đổ thêm dầu vào lửa hoặc trở thành khán giả đứng ngoài, bàng quan xem trò vui, gián tiếp gây tổn thương người khác. Chương Ngọc quá tài hoa và phi phàm. Người như vậy dễ bị xúc phạm nhất. Có thể lúc cậu ấy lớn mạnh, người khác sẽ xu nịnh, bỡ đỡ cậu ấy, nhưng một khi cậu ấy sa cơ lỡ vận, họ sẽ không do dự chĩa mũi nhọn vào cậu ấy. Tại sao ư? Có lẽ chỉ bởi vì cậu ấy quá xuất sắc mà thôi.”
Liễu Địch từ từ bình tĩnh lại. Thầy Chương không chỉ chiến đấu chống lại số mệnh, mà thầy còn phải chống lại sự tàn nhẫn của xã hội, cuộc sống và con người. Thử hỏi sao thầy không thương tích đầy mình?
Văn Tuấn lau khô nước mắt, không yên tâm hỏi Liễu Địch: “Chị… chị có thể nghe em kể tiếp không?”
Liễu Địch gật đầu. “Đừng bận tâm đến chị, em cứ kể tiếp đi!”
Văn Tuấn tiếp tục: “Bắt gặp bộ dạng đó của thầy Chương, trong lòng em dấy lên sự thương cảm. Nhưng em không biết giúp thầy bằng cách nào. Chắc chị cũng biết, ngoài chị ra, thầy Chương không nhận sự giúp đỡ của bất cứ ai…”
“Bởi vì thầy không cần sự thương hại của bất kỳ người nào.” Liễu Địch cắt ngang lời Văn Tuấn.
Văn Tuấn thè lưỡi. “May mà em không đi giúp thầy. Trong lúc em lưỡng lự, hiệu trưởng Cao đến nơi. Em vội bỏ đi, nhưng trong lòng vẫn rất bất an. Buổi chiều trước khi tan học, thầy Chương đột nhiên đến lớp học tìm em. Thầy đã lấy lại vẻ lạnh nhạt và nghiêm túc thường ngày. Thầy gọi em ra ngoài hành lang, hỏi em: “Văn Tuấn, sáng mai em có rảnh không?” Em nói có. Thầy lại nói: “Vậy sáng mai em đến trường một chuyến, chúng ta chấm điểm bảy bài tập làm văn cuối cùng.” Em đột nhiên hiểu ra vấn đề. Đúng là thầy Chương sắp rời khỏi lớp chúng em, rời khỏi ngôi trường này. Hóa ra hiệu trưởng Cao đi tìm thầy là muốn khuyên thầy từ chức…”
“Không sai.” Hiệu trưởng Cao tiếp lời. “Thầy tìm Chương Ngọc để khuyên cậu ấy từ chức. Thầy cũng không có cách khác. Thật ra, thầy không bận tâm đến cái ghế hiệu trưởng của mình, chỉ là nếu chuyện ầm ĩ này được đưa lên toà án, hậu quả em và Chương Ngọc phải gánh chịu sẽ không thể tưởng tượng. Lúc thầy đi vào phòng, thầy nhìn thấy Chương Ngọc ngồi bất động dưới đất, thầy cũng nhìn thấy chậu hoa nhài vô tội bị đập vỡ, trong lòng thầy dấy lên sự bi phẫn. Thầy lập tức quay về phòng hiệu trưởng, lấy một chậu đất cao lanh rồi nhanh chóng bỏ cây hoa nhài, hốt hết đất vào chậu đó. Chương Ngọc vẫn ngồi đó như một tảng đá trầm mặc. Cậu ấy ngồi đúng một tiếng đồng hồ. Sau đó, cậu ấy đứng dậy, nói với thầy: “Chú Cao, cảm ơn chú đã giúp cháu trồng lại cây hoa.” Thầy ngẩn người, hóa ra cậu ấy biết tất cả. Lúc này, cậu ấy đã lấy lại vẻ bình tĩnh, nỗi đau khổ và tuyệt vọng vơi đi không ít. Thế là thầy lựa lời nói với cậu ấy những điều Chủ nhiệm Hàn uy hiếp. Chương Ngọc lặng lẽ lắng nghe, cậu ấy không hề biểu lộ sự tức giận. Cậu ấy nói với thầy: “Chú Cao, cháu xin từ chức. Cháu rất cám ơn vì chú đã chăm sóc và quan tâm đến cháu những năm qua. Cháu luôn cố gắng tránh gây phiền phức cho chú. Thật không may đến cuối cùng, cháu vẫn khiến chú gặp rắc rối.” Lồng ngực thầy như bị đâm một nhát dao, đau nhói. Thầy nói với cậu ấy: “Chương Ngọc, chú Cao có lỗi với cháu. Bố của Khiên Khiên là người chúng ta không thể dây vào.” Chương Ngọc bình tĩnh nói với thầy: “Chú Cao, điều này không liên quan đến chú. Kể cả chú không nói với cháu, cháu cũng định từ chức.” Cậu ấy đột nhiên chỉ tay vào chậu hoa nhài, cười khổ: “Nếu cháu không đi, chắc nó vẫn sẽ bị vùi dập.”
Ba người trong văn phòng đồng thơi “ồ” lên một tiếng. Liễu Địch cất giọng run run: “Thực ra, vì em nên thầy Chương mới quyết định từ chức.”
Trong mắt Văn Tuấn vụt qua một tia kinh ngạc, cậu đưa mắt nhìn mọi người, liếm môi rồi kể tiếp: “Ngày hôm sau, sáng thứ Bảy, em đến trường từ sớm. Tâm trạng của em rất phức tạp, em không hy vọng thầy Chương từ chức nhưng không nghĩ ra cách giữ thầy ở lại. Lúc em đẩy cửa văn phòng thầy, em nhìn thấy thầy đang tưới nước cho chậu hoa nhài. Thầy rất tập trung, tựa hồ dồn hết tinh thần vào công việc đó. Em đột nhiên phát hiện, thầy Chương khác hẳn ngày thường. Hôm đó, thầy mặc áo sơ mi màu mận, quần jean màu xanh đậm, thầy còn đeo cặp kính màu nâu trà…”
“A…” Liễu Địch lại kêu lên một tiếng, trái tim cô co thắt dữ dội. Cô mơ hồ lẩm bẩm một câu: “Tại sao thầy lại mặc bộ đồ đó?”
“Đúng vậy, em cũng không hiểu vì sao.” Văn Tuấn thật thà trả lời. “Bây giờ đã là cuối thu, trời rất lạnh, thầy chỉ mặc một cái áo sơ mi mỏng, làm sao có thể chịu đựng nổi? Tuy nhiên, thầy Chương dường như không để ý đến thời tiết. Sự chú ý của thầy đều tập trung vào chậu hoa nhài. Em không đành lòng quấy rầy thầy. Cho đến khi thầy tưới cây xong, quay đầu lại, em mới chào một tiếng: “Thầy Chương!”
“Văn Tuấn đến rồi à?” Thầy nói, vẻ mặt thầy vô cùng bình thản, thậm chí bộc lộ sự dịu dàng hiếm thấy: “Em hãy lại đây, em thấy cây hoa nhài này thế nào?” Thầy chỉ tay vào chậu hoa nhài trên bệ cửa sổ. Cây hoa đã sống lại, mặc dù cành lá vẫn còn ủ rũ, xác xơ. Em nói thật với thầy: “Chắc không có vấn đề gì đâu ạ! Chỉ cần không bị nhổ lên lần nữa, nó sẽ sống tốt.” Thầy Chương hài lòng gật đầu, đồng thời nói một câu mang hàm ý sâu xa: “Tôi đi rồi, hy vọng nó sẽ không bị vùi dập nữa.”.”
Liễu Địch giật mình, câu nói này mang điềm chẳng lành. Lẽ nào nó ám chỉ điều gì đó?
“Nghe đến từ “đi”, viền mắt em cay cay. Em đột nhiên hiểu ra, chúng em không thể rời xa thầy Chương. Không ai có thể thay thế vị trí của thầy trong lòng chúng em. Con người thường đến lúc đánh mất mới biết thứ mình mất đi quý giá biết bao. Em xúc động hét lên: “Thầy Chương, em không muốn xa thầy!” Trên gương mặt thầy Chương vụt qua một tia cảm động, nhưng thầy nhanh chóng lấy lại vẻ bình tĩnh, nhẹ nhàng nói với em: “Chúng ta cùng chấm nốt số bài văn còn lại!”
Em và thầy bắt đầu chấm điểm và nhận xét. Em biết, đây là lần cuối cùng em được làm việc với thầy. Cảm giác “cực hình” và “ngồi trên đống lửa” ở trong em trước kia giờ trở thành sự lưu luyến. Thầy Chương vẫn nghiêm túc lắng nghe và nhận xét mỗi bài văn như thường lệ. Mặc dù đã từ chức, thầy vẫn làm tròn trách nhiệm của một giáo viên. Sau đó, em độc đến bài văn của Khiên Khiên. Không hiểu sao, em đột nhiên muốn xé nát bài văn đó. Nhưng lần này, cậu ta viết rất hay. Cậu ta viết về vụ hỏa hoạn kinh hoàng xảy ra ở thành phố chúng ta vào buổi tối trước đêm Giao thừa năm năm trước…”
“Hả?” Liễu Địch, Giáo sư Tô và hiệu trưởng Cao kinh ngạc thốt lên.
“Đúng vậy, Khiên Khiên viết về trận hỏa hoạn đó. Lúc đó, cậu ta đang ăn cơm ở nhà bà nội, nhà bà nội của cậu ta cũng nằm trong khu vực bị cháy. Ông bà nội của cậu ta đã chết trong trận hỏa hoạn đó. Còn cậu ta đứng lên vai một người con trai, nhảy ra khỏi ô cửa sổ trên bức tường nên mới thoát chết. Đáng tiếc là cậu ta vừa nhảy xuống, bức tường đó liền đổ sụp. Sau này, cậu không tìm thầy ân nhân cứu mạng. Nhưng cậu ta nói, cậu ta mãi mãi không bao giờ quên đôi mắt sáng ngời của anh ấy trong ánh lửa. Bài văn của Khiên Khiên rất cảm động, đến thầy Chương cũng bị ảnh hưởng. Thầy ngẩng đầu, ngồi thẳng người, dường như nghe rất nhập tâm. Trong quá trình em đọc bài văn, thầy không cắt ngang một lần nào. Sau đó, lần đầu tiên thầy hỏi em ai viết bài văn này. Em do dự một lát rồi mới nói tên Khiên Khiên. Thầy có vẻ hơi kinh ngạc. Trầm mặc một lát, thầy gượng cười rồi cho bài văn 98 điểm, là điểm số cao nhất của lần viết văn này.
Nói thật là, việc làm của thầy Chương khiến em bị chấn động. Thực tế, trong hai ngày đó, thầy Chương làm em chấn động không dưới một lần. Ở thầy có một thứ gì đó thuộc về tinh thần ảnh hưởng sâu sắc đến em lúc nào không hay, khiến em hoàn toàn thay đổi cách nhìn về thầy. Em không thể nói là thích thầy, nhưng ít nhất em kính trọng thầy.”
Văn Tuấn nhìn Liễu Địch chăm chú rồi cất giọng chân thành: “Liễu Địch, chị nói đúng, thầy Chương không gây tổn hại cho người khác, thầy cũng chẳng có ý trả thù người khác.”
“Cám ơn nhận xét của em về thầy.” Liễu Địch gật đầu. “Em có thể nói ra câu này, chứng tỏ em xứng đáng làm người đại diện của thầy.”
Văn Tuấn hơi ngượng ngùng. Cậu nhanh chóng kể tiếp: “Sau khi chấm xong bài, em giúp thầy Chương viết đơn xin nghỉ việc. Là thầy đọc, em viết. Đơn xin nghỉ việc vẻn vẹn chỉ có lý do: “Bởi vì xử phạt học sinh không đúng, tôi xin được từ chức.” Chỉ mấy từ đơn giản nhưng thầy đã gánh chịu toàn bộ trách nhiệm. Sau khi viết xong, thầy ký tên rồi bảo em cầm đến phòng thầy hiệu trưởng. Lần đầu tiên em nhìn thấy thầy Chương viết chữ. Nét chữ của thầy rất phóng khoáng. Hiệu trưởng Cao đang ở trong phòng. Sau khi nhận đơn, thầy không nói gì, chỉ buông tiếng thở dài. Khi em quay về văn phòng, thầy Chương đã chuẩn bị ra về. Em và thầy cùng đi xuống cầu thang. Thầy không cần em đỡ, bước đi rất ung dung, điềm tĩnh. Đến cổng trường, thầy đột nhiên nói với em: “Văn Tuấn, thầy rất cám ơn em đã giúp thầy trong hai tháng qua.” Em cảm thấy mặt nóng bừng, trong lòng vô cùng hổ thẹn. Mỗi buổi trưa tới giúp thầy chấm điểm, em đều oán trách và nguyền rủa thầy. Bây giờ nghĩ lại, em rất hối hận. Thầy Chương vẫy tay với em, em kinh ngạc phát hiện, thầy đang cười. Đầy là lần đầu tiên em nhìn thấy thầy mỉm cười. Nụ cười đó như ánh mặt trời ló ra khỏi tầng mây, rạng rỡ và ấm áp vô cùng. Em bất giác đứng ngây người ở cổng trường, dõi theo bóng lưng thầy cho đến khi bóng thầy khuất dạng. Em thật sự không thể ngờ… chỉ một tiếng đồng hồ sau, thầy đã vĩnh viễn rời khỏi cõi đời này…”
Nói xong, giọng Văn Tuấn nấc nghẹn, khóe mắt ngân ngấn nước. Sắc mặt Liễu Địch tái nhợt. Cô ngồi bất động như pho tượng. Đôi bài tay Giáo sư Tô run rẩy, dường như ông đang cố đè nén nỗi đau. Sắc mặt thầy Cao nặng nề, ông nhìn quanh căn phòng rồi lên tiêng: “Đúng vậy, tai nạn giao thông xảy ra một tiếng đồng hồ sau đó, tại trạm xe buýt Chương Ngọc vẫn thường đợi xe. Nghe nói, cậu ấy nghe nhầm âm thanh, đi xuống lòng đường nên bị một chiếc xe máy phóng rất nhanh đâm trúng. Lúc thầy nhận được tin báo, Chương Ngọc đã được đưa đi cấp cứu ở bệnh viện. Khi thầy đến bệnh viện, cậu ấy đang hấp hối, giống như cậu ấy cố gắng giữ chút hơi thở cuối cùng để đợi thầy. Cậu ấy để lại ba câu di ngôn: Thứ nhất, không truy cứu trách nhiệm người gây ra tai nạn, dùng tiền lương và tiền bảo hiểm của cậu ấy để thanh toán viện phí và tiền tổ chức lễ tang. Thứ hai, ủy thác cho Giáo sư Tô rải tro cốt của cậu ấy xuống biển. Thứ ba, cậu ấy để lại toàn bộ sách quý, bao gồm cả sách ở Trúc Ngâm Cư cho Liễu Địch.”
Hiệu trưởng Cao nói xong, cả căn phòng chìm trong không khí yên lặng tuyệt đối. Ánh mắt mọi người đều tập trung vào Liễu Địch. Liễu Địch vẫn ngồi bất động như đang cố gắng suy nghĩ điều gì đó. Cô im lặng đến mức khiến người đối diện hoảng hốt, sợ hãi và đau đớn.
Hiệu trưởng Cao là người đầu tiên không thể kiềm chế, ông bước đến trước mặt Liễu Địch, cất giọng tự trách: “Liễu Địch, đây là toàn bộ sự thật. Văn Tuấn nói đúng đấy, vụ tai nạn xe và chuyện xảy ra trước đó không liên quan. Nếu tinh thần không bị đả kích nặng nề, Chương Ngọc không thể nào nghe nhầm âm thanh. Nếu em muốn oán trách thì hãy trách thầy. Thầy không nên phân lớp của Khiên Khiên cho Chương Ngọc. Là một hiệu trưởng, thầy nên nghĩ ra, với tính cách của Khiên Khiên, sớm muộn gì con bé và Chương Ngọc cũng xảy ra va chạm. Là một hiệu trưởng, thầy không biết dự phòng trước khi sự việc xảy ra, bất lực sau khi xảy ra sự việc. Nhất Bạch à…” Hiệu trưởng Cao gọi tên bố thầy Chương. “Tôi không chỉ hại anh, mà còn không thể bảo vệ đứa con trai duy nhất của anh!”
Văn Tuấn đi đến bên Liễu Địch, thành khẩn nói: “Liễu Địch, em muốn nói với chị, trước khi sự việc xảy ra, em thật sự tin vào lời đồn giữa chị và thầy, lúc sự việc xảy ra, em nửa tin nửa ngờ, sau khi sự việc xảy ra, em hoàn toàn hoài nghi, đến bây giờ gặp chị, em không tin dù chỉ một từ. Em cảm thấy, dù giữa chị và thầy có tình yêu thì đó cũng là tình cảm trong sáng, đẹp đẽ. Chị hãy tin em, sau khi thầy Chương qua đời, chẳng còn ai nói này nói nọ, thậm chí còn có người chủ động đứng ra đính chính tin đồn. Mọi người rất đồng tình với chị và thầy. Xin lỗi, em lại dùng từ “đồng tình”. Ý em là, mọi người đều tin tình cảm giữa thầy và chị là trong sáng và chân thành. Mọi người có thể nhất thời bị kẻ tiểu nhân che mắt, chứ không thể bị che mắt vĩnh viễn. Người đời tuy tàn khốc nhưng cũng có mặt tốt đẹp.”
Liễu Địch hơi động đậy. Cô liếm bờ môi không còn chút sắc hồng, như muốn lấy lại chút sức sống cho bản thân. Sau đó, cô mở miệng, giọng khàn khàn và bình ổn: “Em không oán trách bất cứ người nào. Em chỉ oán trách số mệnh. Thầy Chương chưa bao giờ ngừng chống lại số mệnh, tuy thầy đã thất bại, nhưng thầy không chịu khuất phục. Dù ở giây phút cuối cùng của cuộc đời, thầy cũng có những bước đi và hành động đẹp đẽ. Em không dám oán trách số mệnh không công bằng, bởi thầy Chương chưa từng thốt ra một lời ai oán, dù số phận quả thực quá hà khắc với thầy. Em chỉ oán trách, tại sao số phận không cho em một cơ hội, để em và thầy Chương cùng nhau chiến đấu chống lại bóng tối. Em biết, chúng em có thể thất bại, nhưng em nguyện bị cuốn vào bóng tối vô biên, nguyện cùng thầy chết một cách oanh liệt.”
Mọi người đều chấn động bởi câu nói của Liễu Địch. Văn Tuấn là người xông lên trước tiên. Cậu nắm tay Liễu Địch, nói: “Liễu Địch, em rất ngưỡng mộ thầy Chương. Có một tình yêu sâu sắc và thánh thiện như vậy, thầy chết cũng không hối tiếc.”
Hiệu trưởng Cao nói với Liễu Địch bằng giọng điệu chân thành: “Liễu Địch, em khiến mọi người đều cảm động, khiến chúng tôi cảm thấy mình trở nên dung tục và nhỏ bé trước em và Chương Ngọc. Tuy nhiên, em đừng buồn, em tự nguyện bị cuốn vào bóng tối, nhưng Chương Ngọc chưa chắc đã đồng ý để em làm như vậy. Vì vậy, em hãy coi vụ tai nạn này là một cách ông trời tác thành tâm nguyện của cậu ấy.”
Bờ môi Liễu Địch run run, cô rút tay ra khỏi tay của Văn Tuấn, cất giọng dịu dàng và kiên quyết: “Em muốn một mình đi dạo quanh sân trường, mọi người đừng theo em.”
Sân trường vô cùng yên tĩnh. Liễu Địch đón ngọn gió thu, đứng bất động ở đường biên sân thể dục, ngắm nhìn sân thể dục rộng lớn, ngắm nhìn tòa nhà ở phía nam, ngắm nhìn “khu vực nguy hiểm” giữa hai cầu môn. Trong lúc mơ hồ, cô lại cảm nhận thấy tâm trạng hốt hoảng mỗi khi dắt thầy Chương đi qua nơi này. Một trận gió thổi qua, cuốn theo cát bay mù mịt. Liễu Địch mơ hồ quay trở lại buổi trưa mùa hè năm đó, buổi trưa thầy cho bài văn của cô điểm 0, buổi trưa thầy bình thản kể câu chuyện cuộc đời mình, thầy chủ động đưa tay về phía cô, hai thân hình dìu đỡ nhau đi vào trong gió cát, và cả tiếng hát rõ ràng vang vọng khắp không gian:
“Anh hãy đưa tay,
Để em nắm lấy,
Đi qua sa mạc hoang vắng,
Tìm kiếm ốc đảo khao khát bấy lâu…”
Thầy Chương, bây giờ thầy đang cô độc một mình trên đường xuống suối vàng, liệu có người dìu đỡ thầy không?
Gió thu ngừng thổi, cát vàng ngừng bay, Liễu Địch đột nhiên phát hiện, dưới gốc cây ngô đồng ở phía tây bắc sân trường có một nữ sinh nhỏ bé đang ngồi. Nữ sinh đó ngồi ngẩn ngơ, trong tay cẩm quyển vở bài tập, biểu cảm trên mặt tương đối phức tạp: bất lực, hối hận, không cam lòng, bi ai, đau khổ, phản kháng, quật cường… Liễu Địch chưa từng gặp một gương mặt nào chứa đầy mâu thuẫn như vậy. Trong đầu cô vụt qua một ý nghĩ, sắc mặt cô lập tức bị lớp sương mù dày đặc che phủ, nhất định là cô bé đó!
Liễu Địch nhẹ nhàng tiếng lại gần. Cô bé đó vẫn không hề phát hiện ra.
“Em là Hàn Khiên Khiên, đúng không?” Liễu Địch lên tiếng hỏi, giọng lạnh băng.
“Tôi cũng biết chị là Liễu Địch!” Cô bé đó lập tức đứng dậy trừng mắt với Liễu Địch, gương mặt đầy vẻ cảnh giác và phản kháng. “Không sai, tôi chính là Khiên Khiên, chính tôi đã mắng chửi Chương Ngọc ở lớp học, chính tôi đã bảo bố tôi đuổi Chương Ngọc ra khỏi trường, chính tôi đã nhổ cây hoa nhài mà Chương Ngọc coi như bảo bối. Chị định làm gì tôi nào?”
“Tôi chẳng định làm gì cả. Tôi chỉ muốn xem, em rốt cuộc là người thế nào.” Giọng Liễu Địch vẫn lạnh băng.
“Được, thế thì chị xem đi, nhìn từ đầu đến chân đi!” Khiên Khiên cất cao giọng. “Chị hãy nhìn cho kĩ đi, tôi không phải là hung thủ, cũng không phải tội phạm. Cái chết của Chương Ngọc chẳng liên quan đến tôi. Lẽ nào thầy ta bị xe đâm chết, tôi nên bị khiển trách, bị công kích hay sao? Là tôi bảo người lái xe máy đó đâm thầy ta à? Thầy ta đánh tôi là thầy ta không đúng, thầy ta không thể dạy ở trường này. Mấy ngày nay, tôi đã chịu đựng đủ rồi. Mọi người đều chỉ trích tôi, cứ như tôi là thủ phạm giết chết Chương Ngọc, còn Chương Ngọc trở thành người vô tội. Chị có biết tại sao không? Bởi Chương Ngọc chết rồi. Ai mà không đồng tình với người chết? Ai đi nói xấu người chết cơ chứ? Thầy ta chết rồi, mọi người chỉ nghĩ đến điểm tốt của thầy ra. Chị có biết không? Chương Ngọc đã dùng sinh mạng để cứu chị, bằng không, trong mắt người khác, chị mãi mãi là người con gái không trong sạch. Bây giờ thì hay rồi, tình cảm của hai người trở thành thứ tình cảm trong sáng. Còn tôi thì sao? Lẽ nào Chương Ngọc chết đi là có thể phủ sạch mọi sai lầm của thầy ta? Sai lầm vĩnh viễn là sai lầm.” Nữ sinh đột nhiên hét lên: “Thầy ta không nên đánh tôi! Thầy ta không nên dạy học. Tôi không có lỗi, bố tôi không có lỗi! Chúng tôi đều không có lỗi! Thầy ta mới là người có lỗi…”
Khiên Khiên la hét không ngừng. Nhưng từ trong tiếng gào thét đó, Liễu Địch nhận ra sự hối hận đè nén trong lòng con bé. Cô bé này đang dùng cách cực đoan để bảo vệ lòng ham hư vinh và sự kiêu ngạo của bản thân, che giấu sự sám hối. Nếu không phải nhận ra điều này, có lẽ Liễu Địch đã cho nó một bạt tai từ lâu.
Đến khi Khiên Khiên gào khản cổ, Liễu Địch mới cất giọng lạnh lùng: “Nghe nói bài văn của em được 98 điểm, tôi có thể xem bài văn đó không?”
Khiên Khiên lại cất cao giọng, ném quyển vở bài tập cho Liễu Địch. “Chị xem đi! Chị đừng tưởng chị nhắc đến 98 điểm là có thể khiến tôi có cảm giác tội lỗi. Chị đừng mơ! Mọi người đều nói Chương Ngọc rộng lượng, lấy đức báo oán. Lấy đức báo oán gì chứ? Tôi đạt 98 điểm là bởi tôi viết hay, thầy ta buộc phải cho tôi điểm số cao. Chị cứ đọc đi, xem bài văn của tôi có xứng đáng đạt điểm cao hay không!”
Liễu Địch không để ý đến lời nói của Khiên Khiên. Im lặng đọc bài văn một lúc, cô quay sang hỏi Khiên Khiên: “Em có nhớ hình dáng của người con trai em đã cứu em không?”
Khiên Khiên ngẩn người, nó không ngờ Liễu Địch lại đề cập đến vấn đề này. Ngẫm nghĩ một lúc, nó nói: “Tôi không nhớ rõ. Lúc đó tôi quá hoảng loạn, quá sợ hãi, chỉ muốn thoát ra ngoài. Có điều, tôi vĩnh viễn không quên đôi mắt đó, đôi mắt kiên cường, trấn tĩnh và sáng ngời trong ngọn lửa. Nếu có cơ hội gặp lại ánh mắt ấy, tôi nghĩ tôi sẽ nhận ra anh ấy qua đôi mắt.” Khiên Khiên đột nhien trở nên cảnh giác, hỏi: “Việc này thì liên quan gì đến chị? Tôi nói cho chị biết, đây là câu chuyện chân thực, tuyệt đối không phải đạo văn.”
Liễu Địch lặng lẽ rút ra một tấm ảnh, đưa đến trước mặt Khiên Khiên. “Em xem, đây có phải là người cứu em không?”
Khiên Khiên sững sờ. Nó quan sát tấm ảnh thật lâu. Sau đó, nó bất chợt giật lấy tấm ảnh, áp vào ngực. Cuối cùng nó ngẩng đầu, gương mặt đầy vẻ xúc động và vui mừng: “Đúng là anh ấy! Đúng là anh ấy! Chính là đôi mắt đó… Không sai, là anh ấy! Người khác không thể có đôi mắt như vậy.”
Khiên Khiên đột nhiên túm tay Liễu Địch, cất giọng phấn khích: “Mau nói cho em biết, anh ấy là ai, anh ấy đang ở đâu? Em xin chị, chị hãy nói cho em biết. Em muốn gặp anh ấy, em nhất định phải gặp anh ấy!”
Nhìn khuôn mặt vui mừng của Khiên Khiên, trong lòng Liễu Địch rối bời. Thầy Chương thầy đúng là người kiêu ngạo và lương thiện biết bao. Đến phút cuối cùng, thầy cũng không nỡ khiến học trò đã từng tàn nhẫn chà đạp thầy cắn rứt lương tâm.
Thấy Liễu Địch im lặng, Khiên Khiên bỗng hoảng sợ. Nó kéo tay Liễu Địch, cất giọng khẩn cầu: “Em biết chị hận em! Chị đánh em, mắng em cũng được, nhưng xin chị hãy nói tên người đó cho em biết, để em gặp anh ấy. Anh ấy… là ân nhân cứu mạng của em.”
“Em đã từng gặp, nhưng bây giờ em vĩnh viễn không thể nhìn thấy người đó.” Liễu Địch nhìn Khiên Khiên bằng ánh mắt lạnh nhạt pha lẫn bi ai. “Người ấy chính là thầy Chương, người thầy em từng nhục mạ và xúc phạm. Thầy đã mất đi đôi mắt trong vụ hỏa hoạn năm đó.”
Nói xong, Liễu Địch nhẹ nhàng quay người bỏ đi.
Hiệu trưởng Cao nói xong, cả căn phòng chìm trong không khí yên lặng tuyệt đối. Ánh mắt mọi người đều tập trung vào Liễu Địch. Liễu Địch vẫn ngồi bất động như đang cố gắng suy nghĩ điều gì đó. Cô im lặng đến mức khiến người đối diện hoảng hốt, sợ hãi và đau đớn.
Hiệu trưởng Cao là người đầu tiên không thể kiềm chế, ông bước đến trước mặt Liễu Địch, cất giọng tự trách: “Liễu Địch, đây là toàn bộ sự thật. Văn Tuấn nói đúng đấy, vụ tai nạn xe và chuyện xảy ra trước đó không liên quan. Nếu tinh thần không bị đả kích nặng nề, Chương Ngọc không thể nào nghe nhầm âm thanh. Nếu em muốn oán trách thì hãy trách thầy. Thầy không nên phân lớp của Khiên Khiên cho Chương Ngọc. Là một hiệu trưởng, thầy nên nghĩ ra, với tính cách của Khiên Khiên, sớm muộn gì con bé và Chương Ngọc cũng xảy ra va chạm. Là một hiệu trưởng, thầy không biết dự phòng trước khi sự việc xảy ra, bất lực sau khi xảy ra sự việc. Nhất Bạch à…” Hiệu trưởng Cao gọi tên bố thầy Chương. “Tôi không chỉ hại anh, mà còn không thể bảo vệ đứa con trai duy nhất của anh!”
Văn Tuấn đi đến bên Liễu Địch, thành khẩn nói: “Liễu Địch, em muốn nói với chị, trước khi sự việc xảy ra, em thật sự tin vào lời đồn giữa chị và thầy, lúc sự việc xảy ra, em nửa tin nửa ngờ, sau khi sự việc xảy ra, em hoàn toàn hoài nghi, đến bây giờ gặp chị, em không tin dù chỉ một từ. Em cảm thấy, dù giữa chị và thầy có tình yêu thì đó cũng là tình cảm trong sáng, đẹp đẽ. Chị hãy tin em, sau khi thầy Chương qua đời, chẳng còn ai nói này nói nọ, thậm chí còn có người chủ động đứng ra đính chính tin đồn. Mọi người rất đồng tình với chị và thầy. Xin lỗi, em lại dùng từ “đồng tình”. Ý em là, mọi người đều tin tình cảm giữa thầy và chị là trong sáng và chân thành. Mọi người có thể nhất thời bị kẻ tiểu nhân che mắt, chứ không thể bị che mắt vĩnh viễn. Người đời tuy tàn khốc nhưng cũng có mặt tốt đẹp.”
Liễu Địch hơi động đậy. Cô liếm bờ môi không còn chút sắc hồng, như muốn lấy lại chút sức sống cho bản thân. Sau đó, cô mở miệng, giọng khàn khàn và bình ổn: “Em không oán trách bất cứ người nào. Em chỉ oán trách số mệnh. Thầy Chương chưa bao giờ ngừng chống lại số mệnh, tuy thầy đã thất bại, nhưng thầy không chịu khuất phục. Dù ở giây phút cuối cùng của cuộc đời, thầy cũng có những bước đi và hành động đẹp đẽ. Em không dám oán trách số mệnh không công bằng, bởi thầy Chương chưa từng thốt ra một lời ai oán, dù số phận quả thực quá hà khắc với thầy. Em chỉ oán trách, tại sao số phận không cho em một cơ hội, để em và thầy Chương cùng nhau chiến đấu chống lại bóng tối. Em biết, chúng em có thể thất bại, nhưng em nguyện bị cuốn vào bóng tối vô biên, nguyện cùng thầy chết một cách oanh liệt.”
Mọi người đều chấn động bởi câu nói của Liễu Địch. Văn Tuấn là người xông lên trước tiên. Cậu nắm tay Liễu Địch, nói: “Liễu Địch, em rất ngưỡng mộ thầy Chương. Có một tình yêu sâu sắc và thánh thiện như vậy, thầy chết cũng không hối tiếc.”
Hiệu trưởng Cao nói với Liễu Địch bằng giọng điệu chân thành: “Liễu Địch, em khiến mọi người đều cảm động, khiến chúng tôi cảm thấy mình trở nên dung tục và nhỏ bé trước em và Chương Ngọc. Tuy nhiên, em đừng buồn, em tự nguyện bị cuốn vào bóng tối, nhưng Chương Ngọc chưa chắc đã đồng ý để em làm như vậy. Vì vậy, em hãy coi vụ tai nạn này là một cách ông trời tác thành tâm nguyện của cậu ấy.”
Bờ môi Liễu Địch run run, cô rút tay ra khỏi tay của Văn Tuấn, cất giọng dịu dàng và kiên quyết: “Em muốn một mình đi dạo quanh sân trường, mọi người đừng theo em.”
Sân trường vô cùng yên tĩnh. Liễu Địch đón ngọn gió thu, đứng bất động ở đường biên sân thể dục, ngắm nhìn sân thể dục rộng lớn, ngắm nhìn tòa nhà ở phía nam, ngắm nhìn “khu vực nguy hiểm” giữa hai cầu môn. Trong lúc mơ hồ, cô lại cảm nhận thấy tâm trạng hốt hoảng mỗi khi dắt thầy Chương đi qua nơi này. Một trận gió thổi qua, cuốn theo cát bay mù mịt. Liễu Địch mơ hồ quay trở lại buổi trưa mùa hè năm đó, buổi trưa thầy cho bài văn của cô điểm 0, buổi trưa thầy bình thản kể câu chuyện cuộc đời mình, thầy chủ động đưa tay về phía cô, hai thân hình dìu đỡ nhau đi vào trong gió cát, và cả tiếng hát rõ ràng vang vọng khắp không gian:
“Anh hãy đưa tay,
Để em nắm lấy,
Đi qua sa mạc hoang vắng,
Tìm kiếm ốc đảo khao khát bấy lâu…”
Thầy Chương, bây giờ thầy đang cô độc một mình trên đường xuống suối vàng, liệu có người dìu đỡ thầy không?
Gió thu ngừng thổi, cát vàng ngừng bay, Liễu Địch đột nhiên phát hiện, dưới gốc cây ngô đồng ở phía tây bắc sân trường có một nữ sinh nhỏ bé đang ngồi. Nữ sinh đó ngồi ngẩn ngơ, trong tay cẩm quyển vở bài tập, biểu cảm trên mặt tương đối phức tạp: bất lực, hối hận, không cam lòng, bi ai, đau khổ, phản kháng, quật cường… Liễu Địch chưa từng gặp một gương mặt nào chứa đầy mâu thuẫn như vậy. Trong đầu cô vụt qua một ý nghĩ, sắc mặt cô lập tức bị lớp sương mù dày đặc che phủ, nhất định là cô bé đó!
Liễu Địch nhẹ nhàng tiếng lại gần. Cô bé đó vẫn không hề phát hiện ra.
“Em là Hàn Khiên Khiên, đúng không?” Liễu Địch lên tiếng hỏi, giọng lạnh băng.
“Tôi cũng biết chị là Liễu Địch!” Cô bé đó lập tức đứng dậy trừng mắt với Liễu Địch, gương mặt đầy vẻ cảnh giác và phản kháng. “Không sai, tôi chính là Khiên Khiên, chính tôi đã mắng chửi Chương Ngọc ở lớp học, chính tôi đã bảo bố tôi đuổi Chương Ngọc ra khỏi trường, chính tôi đã nhổ cây hoa nhài mà Chương Ngọc coi như bảo bối. Chị định làm gì tôi nào?”
“Tôi chẳng định làm gì cả. Tôi chỉ muốn xem, em rốt cuộc là người thế nào.” Giọng Liễu Địch vẫn lạnh băng.
“Được, thế thì chị xem đi, nhìn từ đầu đến chân đi!” Khiên Khiên cất cao giọng. “Chị hãy nhìn cho kĩ đi, tôi không phải là hung thủ, cũng không phải tội phạm. Cái chết của Chương Ngọc chẳng liên quan đến tôi. Lẽ nào thầy ta bị xe đâm chết, tôi nên bị khiển trách, bị công kích hay sao? Là tôi bảo người lái xe máy đó đâm thầy ta à? Thầy ta đánh tôi là thầy ta không đúng, thầy ta không thể dạy ở trường này. Mấy ngày nay, tôi đã chịu đựng đủ rồi. Mọi người đều chỉ trích tôi, cứ như tôi là thủ phạm giết chết Chương Ngọc, còn Chương Ngọc trở thành người vô tội. Chị có biết tại sao không? Bởi Chương Ngọc chết rồi. Ai mà không đồng tình với người chết? Ai đi nói xấu người chết cơ chứ? Thầy ta chết rồi, mọi người chỉ nghĩ đến điểm tốt của thầy ra. Chị có biết không? Chương Ngọc đã dùng sinh mạng để cứu chị, bằng không, trong mắt người khác, chị mãi mãi là người con gái không trong sạch. Bây giờ thì hay rồi, tình cảm của hai người trở thành thứ tình cảm trong sáng. Còn tôi thì sao? Lẽ nào Chương Ngọc chết đi là có thể phủ sạch mọi sai lầm của thầy ta? Sai lầm vĩnh viễn là sai lầm.” Nữ sinh đột nhiên hét lên: “Thầy ta không nên đánh tôi! Thầy ta không nên dạy học. Tôi không có lỗi, bố tôi không có lỗi! Chúng tôi đều không có lỗi! Thầy ta mới là người có lỗi…”
Khiên Khiên la hét không ngừng. Nhưng từ trong tiếng gào thét đó, Liễu Địch nhận ra sự hối hận đè nén trong lòng con bé. Cô bé này đang dùng cách cực đoan để bảo vệ lòng ham hư vinh và sự kiêu ngạo của bản thân, che giấu sự sám hối. Nếu không phải nhận ra điều này, có lẽ Liễu Địch đã cho nó một bạt tai từ lâu.
Đến khi Khiên Khiên gào khản cổ, Liễu Địch mới cất giọng lạnh lùng: “Nghe nói bài văn của em được 98 điểm, tôi có thể xem bài văn đó không?”
Khiên Khiên lại cất cao giọng, ném quyển vở bài tập cho Liễu Địch. “Chị xem đi! Chị đừng tưởng chị nhắc đến 98 điểm là có thể khiến tôi có cảm giác tội lỗi. Chị đừng mơ! Mọi người đều nói Chương Ngọc rộng lượng, lấy đức báo oán. Lấy đức báo oán gì chứ? Tôi đạt 98 điểm là bởi tôi viết hay, thầy ta buộc phải cho tôi điểm số cao. Chị cứ đọc đi, xem bài văn của tôi có xứng đáng đạt điểm cao hay không!”
Liễu Địch không để ý đến lời nói của Khiên Khiên. Im lặng đọc bài văn một lúc, cô quay sang hỏi Khiên Khiên: “Em có nhớ hình dáng của người con trai em đã cứu em không?”
Khiên Khiên ngẩn người, nó không ngờ Liễu Địch lại đề cập đến vấn đề này. Ngẫm nghĩ một lúc, nó nói: “Tôi không nhớ rõ. Lúc đó tôi quá hoảng loạn, quá sợ hãi, chỉ muốn thoát ra ngoài. Có điều, tôi vĩnh viễn không quên đôi mắt đó, đôi mắt kiên cường, trấn tĩnh và sáng ngời trong ngọn lửa. Nếu có cơ hội gặp lại ánh mắt ấy, tôi nghĩ tôi sẽ nhận ra anh ấy qua đôi mắt.” Khiên Khiên đột nhien trở nên cảnh giác, hỏi: “Việc này thì liên quan gì đến chị? Tôi nói cho chị biết, đây là câu chuyện chân thực, tuyệt đối không phải đạo văn.”
Liễu Địch lặng lẽ rút ra một tấm ảnh, đưa đến trước mặt Khiên Khiên. “Em xem, đây có phải là người cứu em không?”
Khiên Khiên sững sờ. Nó quan sát tấm ảnh thật lâu. Sau đó, nó bất chợt giật lấy tấm ảnh, áp vào ngực. Cuối cùng nó ngẩng đầu, gương mặt đầy vẻ xúc động và vui mừng: “Đúng là anh ấy! Đúng là anh ấy! Chính là đôi mắt đó… Không sai, là anh ấy! Người khác không thể có đôi mắt như vậy.”
Khiên Khiên đột nhiên túm tay Liễu Địch, cất giọng phấn khích: “Mau nói cho em biết, anh ấy là ai, anh ấy đang ở đâu? Em xin chị, chị hãy nói cho em biết. Em muốn gặp anh ấy, em nhất định phải gặp anh ấy!”
Nhìn khuôn mặt vui mừng của Khiên Khiên, trong lòng Liễu Địch rối bời. Thầy Chương thầy đúng là người kiêu ngạo và lương thiện biết bao. Đến phút cuối cùng, thầy cũng không nỡ khiến học trò đã từng tàn nhẫn chà đạp thầy cắn rứt lương tâm.
Thấy Liễu Địch im lặng, Khiên Khiên bỗng hoảng sợ. Nó kéo tay Liễu Địch, cất giọng khẩn cầu: “Em biết chị hận em! Chị đánh em, mắng em cũng được, nhưng xin chị hãy nói tên người đó cho em biết, để em gặp anh ấy. Anh ấy… là ân nhân cứu mạng của em.”
“Em đã từng gặp, nhưng bây giờ em vĩnh viễn không thể nhìn thấy người đó.” Liễu Địch nhìn Khiên Khiên bằng ánh mắt lạnh nhạt pha lẫn bi ai. “Người ấy chính là thầy Chương, người thầy em từng nhục mạ và xúc phạm. Thầy đã mất đi đôi mắt trong vụ hỏa hoạn năm đó.”
Nói xong, Liễu Địch nhẹ nhàng quay người bỏ đi.
Chương 18
Chạng vạng ngày hôm đó, Liễu Địch lại đến trạm xe buýt nhỏ quen thuộc.
Cây dương liễu cao lớn đã bắt đầu rụng lá. Cây đinh hương đã rụng hết lá từ lâu, cành cây khẳng khiu lay động trong gió thu, như đang mơ một giấc mộng của mùa xuân. Tấm biển sắt vẫn cô độc đứng đó, đón hết chuyến xe buýt này đến chuyến xe buýt khác. Tất cả vẫn như cũ, tựa hồ không có chuyện gì xảy ra, không có vụ tai nạn giao thông, không có máu chảy, không có linh hồn rời khỏi trần gian…
Liễu Địch ngồi bên cạnh bồn hoa, đờ đẫn nhìn lá rơi quanh bệ xi măng. Lá rơi bị gió cuốn lên cao, phát tiếng kêu vi vu. Đó không phải là ngọn gió, mà là thầy Chương. Thầy đang đi trên lá rơi, lắng nghe âm thanh của mùa thu. Liễu Địch như nghe thấy giọng nói trầm ấm quen thuộc: “Lá không thơm nhưng mỗi chiếc lá rụng đều có mùi của mặt trời!”
“Thầy Chương!” Liễu Địch kêu lên một tiếng. Nhưng không ai trả lời cô, thầy Chương không thể trả lời, vĩnh viễn không thể trả lời cô. Chỉ có làm gió thu đang nghẹn ngào, lá rơi đang thở dài. Sau đó là một sự tĩnh lặng chết chóc.
Trước đây, khi ở nơi này đợi xe buýt, Liễu Địch và thầy Chương cũng thường trầm mặc, không lên tiếng nhưng vẫn luôn cảm thấy tâm hồn của cả hai giao lưu bằng ngôn ngữ chân thành nhất. Còn bây giờ, thầy Chương đã tới một thế giới khác, để lại cô lẻ loi một mình ở bến xe. Cô có thể giao lưu với ai?
Ngọn gió tối muộn nhẹ nhàng thổi qua, mang theo mùi thơm của thức ăn không biết tỏa ra từ ô cửa ngôi nhà nào. Từng tốp học sinh đeo cặp sách đi ngang qua Liễu Địch, tiếng cười nói hân hoan. Đây là cảnh tượng vô cùng quen thuộc. Đây từng là thời khắc thư thái nhất, thanh thản nhất trong một ngày của Liễu Địch. Nhờ có thầy Chương ở bên cạnh, cô mới cảm thấy thư thái, thanh thản. Bây giờ, thầy Chương đi rồi, mang theo mọi thanh thản và thư thái. Liễu Địch chỉ còn lại sự cô độc, cô độc vì không có người chia sẻ, cô độc đến mức tâm hồn như chết đi.
Mặt trời từ từ lặn xuống, Liễu Địch ngắm nhìn ánh hoàng hôn ở phía chân trời. Ánh hoàng hôn vẫn rạng rỡ như vậy, vì ai mà rạng rỡ? Ánh hoàng hôn chiếu xuống lá vàng rơi, tô lên một vẻ đẹp bi tráng, vì ai mà bi tráng? Liễu Địch ngắm ráng chiều, ngắm lá rơi, bên tai cô như nghe thấy tiếng hát trầm ấm của thầy Chương cùng tiếng guitar của thầy. Đó là ca khúc All Kinds of Everything:
“Summertime
wintertime
spring and autumn too
Monday
Tuesday, every day
I think of you.
Dances
romances
things of the night
sunshine and holidays
postcards to write
Budding trees
autumn leaves
a snowflakes or two
all kinds of everything remind me of you.”
(Mùa hè, mùa đông, mùa xuân và mùa thu nữa,
Thứ Hai, thứ Ba, và mỗi ngày,
Tôi đều nghĩ về em.
Từng điệu múa, từng câu tâm tình,
Vạn vật của màn đêm
Ánh nắng và kỳ nghỉ,
Những tấm bưu thiếp
Những cái cây đâm chồi
Những chiếc lá mùa thu,
Một, hai bông hoa tuyết
Tất cả đều khiến tôi nhớ em.)
Đúng rồi, tất cả đều tồn tại, đều vì thầy Chương mà tồn tại. Cây dương liễu, khóm đinh hương, tấm biển báo bằng sắt, vật nào cũng khắc sâu hình bóng của thầy, vật nào cũng mang hồi ức về thầy.
Trong lúc ngẩn ngơ, Liễu Địch như nhìn thấy thầy Chương dẫn cô tới mái hiên trú mưa; nhìn thấy thầy Chương đứng bất động bên tấm biển sắt chờ cô trong đêm tuyết rơi; nhìn thấy thầy Chương đưa cành dương liễu lên mặt, nói “mùa xuân đẹp thật”; nhìn thấy thầy Chương đội mưa gió đợi cô ở bến xe buýt khi cô đi thi đại học, tay thầy cầm chiếc ô chưa mở; nhìn thấy thầy Chương dùng đôi bàn tay “ngắm” cô rồi ôm cô vào lòng; nhìn thấy thầy Chương nở nụ cười rạng rỡ như ánh mặt trời từ cửa sổ xe buýt… Cô nhìn thấy tháng ngày trước kia, nhìn thấy từng chi tiết không thể phai mờ trong năm tháng đó. Vậy mà bây giờ, tất cả đã trở thành hồi ức. Thật không công bằng chút nào, thế giới này rất không công bằng. Mọi thứ đều tồn tại, tại sao thầy Chương không tồn tại? Thầy Chương, thầy yêu cuộc sống như vậy, thầy nổi bật như vậy, thầy kiên cường như vậy, thầy cứng cỏi như vậy, tại sao thầy lại biến mất? Tại sao chứ? Vì tai nạn xe ư? Tại sao chiếc xe máy đáng chết đó lại đâm trúng thầy? Khi cô nhận ra tình yêu của mình, khi cô kiên định cho rằng không ai có thể chia cắt cô và thầy… Cô làm thế nào để chống lại số phận, làm thế nào để chống lại tử thần? Cô không thể không oán trách số phận, số phận quá không công bằng.
Mặt trời đã xuống núi, ánh hoàng hôn nơi đường chân trời từ màu đỏ dần trở thành màu tím. Màn đêm sắp buông xuồng, bóng tối từ bốn phương tám hướng bủa vây. Bóng tối, đó là kẻ thù vĩnh viễn của thầy Chương. Bóng tối của người mù quá nặng nề. Hôm nay, Liễu Địch mới biết thế nào gọi là “nặng nề”, vậy mà thầy Chương đã trải qua sự “nặng nề” đó suốt năm năm. Cô từng ngây thơ mộng tưởng sẽ giúp thầy Chương chiến thắng bóng tối. Liệu có thể chiến thắng hay không? Hay là chưa kịp “chiến đấu”, cô đã bị kéo vào bóng tối vô cùng vô tận. Nhưng cô hoàn toàn tự nguyện. Mất đi danh dự, mất đi tiền đồ, cô cũng chẳng màng, cô chỉ cần được kề vai sát cánh cùng thầy Chương. Nhưng số phận không cho cô, dù chỉ là một cơ hội nhỏ nhoi.
“Là số phận không cho ngươi cơ hội sao?” Đột nhiên trong lòng Liễu Địch bật ra một câu hỏi. Liễu Địch giật mình, ai đang hỏi? Là câu hỏi xuất phát từ tiềm thức của cô. Liễu Địch biết trong tiềm thức của cô tồn tại một sự nghi ngờ, nhưng là nghi ngờ điều gì? Co không biết, nhưng sự hoài nghi này luôn ẩn hiện trong đầu cô. Đúng vậy, rốt cuộc ai không cho cô cơ hội? Là số phận? Liễu Địch bất chợt nhớ tới câu nói của Khiên Khiên: “Chị có biết không? Chương Ngọc đã dùng sinh mạng để cứu chị, bằng không, trong mắt người khác, chị mãi mãi là người con gái không trong sạch.” Sao cô lại nhớ tới lời nói này? Những câu nói đó rất quen thuộc, dường như cô đã từng nghe ở đâu đó. Liễu Địch đột nhiên nhớ ra, đó là một đoạn trong cuốn Hải Thiên kỳ ngữ: “Bởi vì trong hiện thực cuộc sống, con người không dễ thông cảm cho người sống, mà dễ thông cảm cho người chết. Con người thường nhớ tới khuyết điểm của người sống. Một khi người đó chết đi, con người sẽ dễ nhớ đến ưu điểm của họ.”
Đúng vậy, quan điểm này rất đúng. Sau khi thầy Chương qua đời, mọi người không chỉ tin thầy trong sạch, mà cũng tin Liễu Địch trong sạch. Quan hệ giữa cô và thầy vốn trong sạch nhưng số phận lại dùng phương thức này để chứng minh sự trong sạch của họ. Cô có thể nói số phận công bằng? Cô có thể nói số phận không tàn nhẫn? Cô có thể nói số phận đã cho cô cơ hội hay không? Thầy Chương đã mất đi sinh mạng, còn cần sự trong sạch để làm gì? Có tác dụng không? Không có tác dụng thật sao? Là ai cho cô sự trong sạch này? Là số mệnh à? Liễu Địch lại nhớ tới lời của hiệu trưởng Cao: “Em tự nguyện cuốn vào bóng tối nhưng Chương Ngọc chưa chắc đã đồng ý để em là như vậy. Vì vậy, em hãy coi vụ tai nạn này là một cách ông trời tác thành tâm nguyện của cậu ấy.” Thầy Chương, thầy không đồng ý thật sao? Liễu Địch thầm hỏi đi hỏi lại trong lòng. Sau đó, đáp lại lời cô là một giọng trầm thấp: “Cô ấy thuần khiết như chậu hoa nhài này. Nếu nhốt cô ấy ở trong phòng tối, liệu cô ấy còn có thể sinh trưởng và nở hoa?”
Liễu Địch đột nhiên đứng bật dậy. Thầy Chương, thầy đang nói với em điều gì? Thầy muốn nói với em điều gì?
Cô lại nghe thấy giọng nói quen thuộc đó: “Con đang cố gắng để cô ấy đừng yêu con!”
Thầy Chương, thầy rất yêu em, yêu em sâu sắc và mãnh liệt. Bởi yêu em nên thầy không muốn làm hại em, thầy đã giấu kín tình yêu của thầy một thời gian dài. Khi thầy phát hiện, bóng tối nặng nề thuộc về thầy đã cuốn danh dự và tương lai của em vào vòng xoáy của vận mệnh, thầy lập tức từ bỏ công việc vốn là nguồn sinh sống của thầy, chỉ vì thầy không muốn em bị ảnh hưởng. Thầy luôn cố gắng hết sức mình, để lại cho em những thứ tốt đẹp nhất, bao gồm cả hình ảnh cuối cùng của thầy, nụ cười rạng rỡ như ánh mặt trời.
Liễu Địch từ từ ngồi xuống, lòng vô cùng đau khổ. Hiệu trưởng Cao nói đúng, tuy số phận bạc đãi thầy Chương, nhưng nó đã dùng phương thức này tác thành tâm nguyện của thầy, đó là một sự “tác thành” tàn nhẫn biết bao.
Liễu Địch đang chìm trong thế giới đau buồn của riêng cô, một hình bóng đột ngột xuất hiện trước mặt cô. Liễu Địch ngẩng đầu, bắt gặp một bà lão mặt đầy nếp nhăn. Bà lão dùng cặp mắt già nua quan sát cô một lúc rồi mới hỏi: “Cháu gái, cháu là học sinh thường đưa thầy giáo mù ra đây đợi xe buýt phải không? Cháu tên là Liễu Địch đúng không?”
Liễu Địch lặng lẽ gật đầu. “Thường” là một từ xa xỉ biết bao. Từ nay về sau, chữ “thường” sẽ không còn tồn tại nữa. Cô lễ phép hỏi lại bà lão: “Thưa bà, sao bà biết cháu và thầy Chương ạ?”
“Bà bán thuốc lá ở bên kia đường. Cháu không biết bà nhưng bà thường nhìn thấy cháu và thầy giáo đợi xe buýt ở nơi này. Khoảng hơn hai tháng trở lại đây, bà không thấy cháu đâu cả, chỉ có một mình thầy giáo đợi xe. Chính bà đã chứng kiến vụ tai nạn, quả thực thảm khốc vô cùng, máu chảy lênh láng trên mặt đường…”
“Đủ rồi ạ, xin bà đừng nói nữa!” Liễu Địch lập tức bịt chặt hai tai. Cô không chịu nổi khi nghe những điều đáng sợ này.
“Tuy nhiên…” Bà lão cau mày. “Hôm đó thầy giáo rất kỳ lạ, thầy ngồi một mình bên bồn hoa gần một tiếng đồng hồ. Ba chuyến xe buýt số 2 đến nơi mà thầy không lên xe. Ngược lại, khi có một chiếc xe máy phóng đến, thầy lại lao xuống lòng đường. Trước đây thầy đâu có như vậy. Xe máy phóng rất nhanh, nhưng từ xa vẫn có thể nghe thấy tiếng máy nổ, sao thầy không phát hiện ra? Chắc hôm đó, tâm trạng của thầy rất nặng nề…”
Đâu chỉ đơn giản là tâm trạng nặng nề? Liễu Địch đau khổ nghĩ thầm. Nhưng ba chuyến xe buýt số 2 đến nơi mà thầy Chương không phát hiện ra. Điều này quá bất bình thường, lẽ nào…
“Hơn nữa…” Bà lão đột nhiên hạ thấp giọng, ra vẻ thần bí. “Trước khi xảy ra tai nạn, thầy giáo còn đốt một bức thư.”
“Một bức thư?” Liễu Địch run run. “Thư gì ạ?” Thầy viết thư?
“Đúng vậy, bà cũng thấy kỳ lạ. Nhưng đúng là thầy đốt một bức thư, bà ở bên này nhìn thấy rõ ràng. Thầy rút ra một phong thư, trầm tư một lát, thầy mượn người đi đường bật lửa và đốt bức thư đó.” Bà lão khẳng định. “Có điều, thầy không đốt hết. Thầy đốt một nửa rồi ném phong thư xuống vỉa hè. Dù sao thầy cũng không nhìn thấy nên không biết nó chưa cháy hết. Sau khi xảy ra tai nạn, bà rất hiếu kỳ nên đã đi nhặt phong thư cháy dở đó. Trên phong bì đề hai chữ “Liễu Địch”. Bà đoán là tên cháu, bởi ba năm qua, ngoài cháu ra, bà không thấy thầy giáo tiếp xúc với người nào khác. Thế là bà giữ lại bức thư cháy dở, đợi cháu đến đây rồi giao lại cho cháu. Không hiểu tại sao, bà cảm thấy cháu nhất định sẽ trở về khi biết tin thầy giáo gặp tai nạn.” Bà lão rút trong túi ra một bức thư đã cháy một nửa. “Của cháu đây. Nội dung bức thư, một chữ bà cũng chưa từng đọc qua.”
Liễu Địch nhận lấy, hai tay cô run rẩy khi mở bức thư đó. Thầy Chương viết cho cô! Tại sao thầy lại viết thư? Thầy đã viết những gì? Tại sao lại đốt đi? Trong đầu cô bỗng vụt qua một câu nói: “Vào thời khắc mọi dây đàn bị đứt, chúng đều phát ra tiếng kêu xé lòng, bởi chúng không cam tâm lặng lẽ chết đi.”
Lẽ nào thầy biết mình sắp “bị đứt”? Lẽ nào thầy biết mình sắp chết? Trời ơi, Liễu Địch không dám nghĩ tiếp. Một nỗi hoảng sợ và bất an dấy lên trong lòng. Cô cảm thấy sự nghi ngờ trong tiềm thức ngày càng sáng tỏ.
Liễu Địch run rẩy mở bức thư. Bức thư đã cháy mất nửa già, chỉ còn lại đoạn cuối cùng. Liễu Địch đưa mắt nhìn, không sai, đây là chữ của Hải Thiên, là chữ của thầy Chương! Mặc dù nét chữ hơi cứng nhưng Liễu Địch vẫn nhận ra.
Sau đó, Liễu Địch từ từ đọc. Trên bức thư chỉ có hai câu, nhưng mỗi từ tựa trái bom nổi tung bên tai cô, chấn động đến mỗi tế nào trên người cô, mỗi sợi dây thần kinh của cô: “Liễu Địch, thứ tôi có thể cho em trong cuộc đời này chỉ là danh dự trong sạch và một tương lai tươi đẹp mà thôi. Thế nhưng, nếu chúng ta có kiếp sau, nếu kiếp sau tôi có đôi mắt sáng, tôi sẽ ở bến xe này… đợi em.”
Phần kết
Đây là một bờ biển không rõ tên ở Yên Đài[1]. Bờ biển không có bãi cát, chỉ có từng mỏm nham thạch lởm chởm nhấp nhô cao vút. Những mỏm nham thạch này không biết đã tồn tại mấy triệu năm, chúng mang thương tích đầy mình nhưng vẫn quật cường đứng ở đó. Đứng trên mỏm nham thạch có thể nhìn thấy đại dương mênh mông.
[1] Yên Đài là thành phố thuộc tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Thành phố nằm bên bờ biển Bột Hải và bờ Đông của vịnh Bột Hải. Yên Đài giáp các thành phố Thanh Đảo và Uy Hải lần lượt về phía tây nam và đông.
Biển mùa đông lạnh lẽo, thê lương và cô quạnh. Phần lớn thời gian, bầu trời màu xanh xám nối liền với mặt biển cũng mang màu xanh xám. Nơi tiếp giáp trời biển là mớ hỗn độn mờ mịt. Bây giờ, nơi đó xuất hiện mặt trời lặn khổng lồ. Nó giống một trái tim đang bùng cháy dữ dội, phóng ra luồng sáng huy hoàng, nhuộm đỏ cả nước biển màu xám, nhuộm đỏ cả bầu trời màu xám, cũng nhuộm đỏ hai thân hình màu đen đứng lặng im trên mỏm đá.
Liễu Địch bất động nhìn mặt trời lặn, để mặc gió biển thổi tung mái tóc của cô, vạt áo của cô. Mấy tháng trước, cô từng nhìn thấy cảnh tượng này trên bức tranh sơn dầu. Lúc đó, tác giả của bức tranh ngồi bên cạnh cô, kể cho cô nghe những điều kỳ diệu của biển cả. Bây giờ, cô đã được tận mắt chứng kiến cảnh mặt trời lặn, nhưng người đó đã... Nước mắt chảy dài trên gương mặt trắng ngần của Liễu Địch, từng giọt lệ rơi xuống hộp tro cốt lạnh lẽo trên tay cô.
Bên tai Liễu Địch như lại vang lên giọng nói trầm ấm của thầy Chương: “Biển cả là kiên cường nhất. Nó có thể bao dung mọi nỗi khổ đau và bất hạnh của con người.”
“Thầy Chương!” Liễu Địch lẩm bẩm. “Chẳng phải thầy luôn muốn nhìn thấy biển sao? Hôm nay, em đưa thầy đến đây, đến với biển...”
Liễu Địch run rẩy mở hộp tro cốt, chậm rãi rải tro cốt trắng tinh xuống biển. Khi tro cốt bay ra biển cả, vô số cánh hoa nhài màu trắng từ tay Giáo sư Tô cũng lặng lẽ rơi xuống nước. Sóng đánh vào bờ đá, dâng lên cao rồi lại rút xuống, như dang rộng vòng tay đón người con đi xa trở về, đón linh hồn tinh khiết, cao cả.
Chương Ngọc, hay còn có tên Hải Thiên, là một thanh niên có học vấn uyên thâm như biển cả, có tư tưởng sâu sắc như biển cả, có tấm lòng rộng lớn như biển cả, có tính cách kiên cường như biển cả, có tâm hồn vĩ đại như biển cả. Ngày hôm nay, cuối cùng chàng trai đó cũng hòa vào lòng biển mà anh yêu quý.
Liễu Địch lặng lẽ ngắm những cánh hoa dập dềnh trên ngọn sóng, như đuổi theo linh hồn của thầy Chương. Tâm tình của cô cuộn trào như sóng biển. Thầy Chương, thầy còn trẻ tuổi như vậy, sinh mệnh đã đặt dấu chấm hết một cách vô tình vào năm thầy hai mươi tám tuổi. Nhưng trong cuộc đời ngắn ngủi này, thầy đã sống rất kiên cường. Thầy từng cầm bút để viết về thế giới, thầy dùng máu và nước mắt để viết về cuộc đời. Thậm chí, khi vận mệnh bất hạnh đổ ụp xuống đầu thầy, thầy cũng không hề sợ hãi mà chiến đấu chống lại số phận đến cùng. Thầy không chỉ dũng cảm, ngoan cường bảo vệ nhân cách và sự tôn nghiêm của bản thân, mà còn không do dự dùng cái chết để đoạt lại danh dự và tiền đồ của người thầy yêu thương từ bàn tay số phận, dùng sinh mạng để bảo vệ tình yêu duy nhất trong cuộc đời thầy. Sự nghiệp văn chương của thầy có thể chưa hoàn thành, nhưng cuộc đời thầy rất viên mãn. Năm năm cuối cùng là một trang huy hoàng và bi tráng nhất trong cuộc đời thầy. Cuộc chiến đấu cuối cùng chống lại số phận cũng là tác phẩm lớn nhất của cuộc đời thầy.
Nửa vầng mặt trời đã khuất, nhưng nó vẫn kiên cường rực cháy. Ánh chiều tà xán lạn nơi đường chân trời khiến mặt biển trở thành một thánh điện nguy nga. Gió biển mang hơi lạnh run người, Giáo sư Tô Văn cởi áo khoác ngoài, nhẹ nhàng khoác lên vai Liễu Địch.
“Liễu Địch, con đừng buồn.” Giáo sư Tô lên tiếng an ủi. “Con vẫn còn trẻ, con đường sau này của con vẫn còn rất dài. Trong tương lai, con sẽ lại có tình cảm thuộc về con. Con nhất định sẽ được vui vẻ.”
Liễu Địch quay người nhìn Giáo sư Tô chăm chú. Sau đó, cô cất giọng chân thành và kiên quyết: “Giáo sư yên tâm, con sẽ sống vui vẻ. Danh dự và tiền đồ của con là do thầy Chương đổi bằng cả sinh mạng của thầy, con có thể không trân trọng nó, không tạo ra tương lai tươi đẹp hay sao? Con từng nói, sinh mệnh và tâm hồn con đã hòa nhập vào sinh mệnh và tâm hồn của thầy Chương. Bây giờ, con chính là thầy, thầy chính là con. Sự nghiệp văn chương của thầy chưa hoàn thành, con sẽ viết thay thầy; mơ ước thầy chưa thực hiện, con sẽ thực hiện giúp thầy; con đường thầy chưa đi hết, con sẽ tiến bước thay thầy; huy hoàng mà thầy chưa kịp tạo ra, con sẽ tạo ra giúp thầy. Con sẽ vì thầy mà sống vui vẻ, sống kiên cường. Con sẽ cùng thầy bước ra khỏi bóng tối, đi về phía ánh sáng!”
Giáo sư Tô bị chấn động. Ông không rời mắt khỏi Liễu Địch. Cô gái nhỏ kiên cường, dũng cảm, tự phụ, cao ngạo đang đứng ở đó. Trong đôi mắt cô hừng hực một ngọn lửa tình cảm mãnh liệt, ngọn lửa đó có thể làm tan chảy nham thạch hàng vạn năm ở dưới chân cô. Giáo sư Tô đột nhiên có cảm giác người đứng trước mặt ông không phải là Liễu Địch, mà là Hải Thiên! Không đúng, là tâm hồn và sinh mệnh của Hải Thiên và Liễu Địch đã hòa làm một. Liễu Địch đã thật sự trưởng thành, cô không còn là cô bé ngây thơ ngày nào, bây giờ cô vừa chín chắn vừa tự tin. Thời thiếu nữ đã qua đi, giai đoạn trưởng thành lặng lẽ đến với cô sau những trắc trở.
“Nhưng...” Giáo sư Tô cầm tay Liễu Địch, cất giọng đầy cảm động và yêu thương. “Liễu Địch, sau này con không định...”
Liễu Địch lắc đầu. “Con sẽ không yêu bất cứ người đàn ông nào. Sinh mệnh và tâm hồn của con đã hòa cùng thầy Chương, sao con có thể đón nhận người khác? Giáo sư có nghe nói hai tâm hồn hòa làm một bị tách ra bao giờ chưa? Con sẽ không oán trách số phận nữa. Con cảm ơn ông trời đã cho con một tình yêu lâu bền nhất, cao thượng nhất, thuần khiết nhất, mãnh liệt nhất, sâu sắc nhất trên cõi đời này. Bao nhiêu người sống ở đời có được tình yêu như vậy? Con còn điều gì không hài lòng?” Liễu Địch lại dõi mắt về mặt trời lặn ở phía xa xa, cô nhẹ nhàng đọc câu thơ của Maksim Gorky[2]:
“Nét đẹp chung quy vẫn là nét đẹp,
Bất kể lúc nó úa tàn,
Tình yêu của chúng ta chung quy vẫn là tình yêu,
Ngay cả khi chúng ta chết đi.”
[1] Maksim Gorky (1868-1936): nhà hoạt động chính trị người Nga, nhà văn, người đặt nền móng cho trường phái hiện thực trong văn chương. Ông được xem là nhà văn kiệt xuất của nền văn học Nga thế kỷ 20
Giáo sư Tô không tiếp tục khuyên nhủ. Tình yêu như vậy liệu có thể lãng quên, có thể cắt đứt, có thể quay lưng?
“Thật ra...” Liễu Địch quay sang nhìn Giáo sư Tô. Đáy mắt cô đầy vẻ cảm động và lưu luyến: “Giáo sư nên vui mừng cho chúng con. Giáo sư nhìn thấy con cũng tức là nhìn thấy anh Hải Thiên. Con là con gái mà anh Hải Thiên tặng cho Giáo sư, con sẽ cùng anh Hải Thiên báo hiếu Giáo sư, cùng Giáo sư hưởng niềm vui. Bố nói có đúng không, thưa bố?”
Một luồng khí nóng dâng trào nơi viền mắt của Giáo sư Tô. Ông lặng lẽ nắm bờ vai Liễu Địch, không nói một lời. Vào thời khắc này, bất cứ từ ngữ nào cũng là thừa thãi. Con gái ông xuất sắc như vậy, ông còn điều gì không thỏa mãn?
Gió biển mạnh dần, thổi tung bay áo khoác gió và chiếc khăng quàng cổ màu trắng trên người Liễu Địch, khiến cô giống như một tiên nữ. Cô ngắm nhìn từng đợt sóng cuồn cuộn nhấp nhô, nghe thanh âm sôi sục của biển cả. Dần dần, thì thầm bên tai cô: “Liễu Địch, nếu chúng ta có kiếp sau, nếu kiếp sau tôi có đôi mắt sáng, tôi sẽ ở bến xe này... đợi em.”
Liễu Địch khẽ nói: “Thầy Chương, thầy hãy đợi em, nhất định em sẽ tới tìm thầy! Nhất định!”
Ở nơi xa, ông mặt trời đã chìm xuống biển, nhưng ráng chiều đẹp đẽ vẫn xán lạn, vẫn rực cháy ở nơi tiếp giáp giữa trời và biển.
Đây là một bờ biển không rõ tên ở Yên Đài[1]. Bờ biển không có bãi cát, chỉ có từng mỏm nham thạch lởm chởm nhấp nhô cao vút. Những mỏm nham thạch này không biết đã tồn tại mấy triệu năm, chúng mang thương tích đầy mình nhưng vẫn quật cường đứng ở đó. Đứng trên mỏm nham thạch có thể nhìn thấy đại dương mênh mông.
[1] Yên Đài là thành phố thuộc tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Thành phố nằm bên bờ biển Bột Hải và bờ Đông của vịnh Bột Hải. Yên Đài giáp các thành phố Thanh Đảo và Uy Hải lần lượt về phía tây nam và đông.
Biển mùa đông lạnh lẽo, thê lương và cô quạnh. Phần lớn thời gian, bầu trời màu xanh xám nối liền với mặt biển cũng mang màu xanh xám. Nơi tiếp giáp trời biển là mớ hỗn độn mờ mịt. Bây giờ, nơi đó xuất hiện mặt trời lặn khổng lồ. Nó giống một trái tim đang bùng cháy dữ dội, phóng ra luồng sáng huy hoàng, nhuộm đỏ cả nước biển màu xám, nhuộm đỏ cả bầu trời màu xám, cũng nhuộm đỏ hai thân hình màu đen đứng lặng im trên mỏm đá.
Liễu Địch bất động nhìn mặt trời lặn, để mặc gió biển thổi tung mái tóc của cô, vạt áo của cô. Mấy tháng trước, cô từng nhìn thấy cảnh tượng này trên bức tranh sơn dầu. Lúc đó, tác giả của bức tranh ngồi bên cạnh cô, kể cho cô nghe những điều kỳ diệu của biển cả. Bây giờ, cô đã được tận mắt chứng kiến cảnh mặt trời lặn, nhưng người đó đã... Nước mắt chảy dài trên gương mặt trắng ngần của Liễu Địch, từng giọt lệ rơi xuống hộp tro cốt lạnh lẽo trên tay cô.
Bên tai Liễu Địch như lại vang lên giọng nói trầm ấm của thầy Chương: “Biển cả là kiên cường nhất. Nó có thể bao dung mọi nỗi khổ đau và bất hạnh của con người.”
“Thầy Chương!” Liễu Địch lẩm bẩm. “Chẳng phải thầy luôn muốn nhìn thấy biển sao? Hôm nay, em đưa thầy đến đây, đến với biển...”
Liễu Địch run rẩy mở hộp tro cốt, chậm rãi rải tro cốt trắng tinh xuống biển. Khi tro cốt bay ra biển cả, vô số cánh hoa nhài màu trắng từ tay Giáo sư Tô cũng lặng lẽ rơi xuống nước. Sóng đánh vào bờ đá, dâng lên cao rồi lại rút xuống, như dang rộng vòng tay đón người con đi xa trở về, đón linh hồn tinh khiết, cao cả.
Chương Ngọc, hay còn có tên Hải Thiên, là một thanh niên có học vấn uyên thâm như biển cả, có tư tưởng sâu sắc như biển cả, có tấm lòng rộng lớn như biển cả, có tính cách kiên cường như biển cả, có tâm hồn vĩ đại như biển cả. Ngày hôm nay, cuối cùng chàng trai đó cũng hòa vào lòng biển mà anh yêu quý.
Liễu Địch lặng lẽ ngắm những cánh hoa dập dềnh trên ngọn sóng, như đuổi theo linh hồn của thầy Chương. Tâm tình của cô cuộn trào như sóng biển. Thầy Chương, thầy còn trẻ tuổi như vậy, sinh mệnh đã đặt dấu chấm hết một cách vô tình vào năm thầy hai mươi tám tuổi. Nhưng trong cuộc đời ngắn ngủi này, thầy đã sống rất kiên cường. Thầy từng cầm bút để viết về thế giới, thầy dùng máu và nước mắt để viết về cuộc đời. Thậm chí, khi vận mệnh bất hạnh đổ ụp xuống đầu thầy, thầy cũng không hề sợ hãi mà chiến đấu chống lại số phận đến cùng. Thầy không chỉ dũng cảm, ngoan cường bảo vệ nhân cách và sự tôn nghiêm của bản thân, mà còn không do dự dùng cái chết để đoạt lại danh dự và tiền đồ của người thầy yêu thương từ bàn tay số phận, dùng sinh mạng để bảo vệ tình yêu duy nhất trong cuộc đời thầy. Sự nghiệp văn chương của thầy có thể chưa hoàn thành, nhưng cuộc đời thầy rất viên mãn. Năm năm cuối cùng là một trang huy hoàng và bi tráng nhất trong cuộc đời thầy. Cuộc chiến đấu cuối cùng chống lại số phận cũng là tác phẩm lớn nhất của cuộc đời thầy.
Nửa vầng mặt trời đã khuất, nhưng nó vẫn kiên cường rực cháy. Ánh chiều tà xán lạn nơi đường chân trời khiến mặt biển trở thành một thánh điện nguy nga. Gió biển mang hơi lạnh run người, Giáo sư Tô Văn cởi áo khoác ngoài, nhẹ nhàng khoác lên vai Liễu Địch.
“Liễu Địch, con đừng buồn.” Giáo sư Tô lên tiếng an ủi. “Con vẫn còn trẻ, con đường sau này của con vẫn còn rất dài. Trong tương lai, con sẽ lại có tình cảm thuộc về con. Con nhất định sẽ được vui vẻ.”
Liễu Địch quay người nhìn Giáo sư Tô chăm chú. Sau đó, cô cất giọng chân thành và kiên quyết: “Giáo sư yên tâm, con sẽ sống vui vẻ. Danh dự và tiền đồ của con là do thầy Chương đổi bằng cả sinh mạng của thầy, con có thể không trân trọng nó, không tạo ra tương lai tươi đẹp hay sao? Con từng nói, sinh mệnh và tâm hồn con đã hòa nhập vào sinh mệnh và tâm hồn của thầy Chương. Bây giờ, con chính là thầy, thầy chính là con. Sự nghiệp văn chương của thầy chưa hoàn thành, con sẽ viết thay thầy; mơ ước thầy chưa thực hiện, con sẽ thực hiện giúp thầy; con đường thầy chưa đi hết, con sẽ tiến bước thay thầy; huy hoàng mà thầy chưa kịp tạo ra, con sẽ tạo ra giúp thầy. Con sẽ vì thầy mà sống vui vẻ, sống kiên cường. Con sẽ cùng thầy bước ra khỏi bóng tối, đi về phía ánh sáng!”
Giáo sư Tô bị chấn động. Ông không rời mắt khỏi Liễu Địch. Cô gái nhỏ kiên cường, dũng cảm, tự phụ, cao ngạo đang đứng ở đó. Trong đôi mắt cô hừng hực một ngọn lửa tình cảm mãnh liệt, ngọn lửa đó có thể làm tan chảy nham thạch hàng vạn năm ở dưới chân cô. Giáo sư Tô đột nhiên có cảm giác người đứng trước mặt ông không phải là Liễu Địch, mà là Hải Thiên! Không đúng, là tâm hồn và sinh mệnh của Hải Thiên và Liễu Địch đã hòa làm một. Liễu Địch đã thật sự trưởng thành, cô không còn là cô bé ngây thơ ngày nào, bây giờ cô vừa chín chắn vừa tự tin. Thời thiếu nữ đã qua đi, giai đoạn trưởng thành lặng lẽ đến với cô sau những trắc trở.
“Nhưng...” Giáo sư Tô cầm tay Liễu Địch, cất giọng đầy cảm động và yêu thương. “Liễu Địch, sau này con không định...”
Liễu Địch lắc đầu. “Con sẽ không yêu bất cứ người đàn ông nào. Sinh mệnh và tâm hồn của con đã hòa cùng thầy Chương, sao con có thể đón nhận người khác? Giáo sư có nghe nói hai tâm hồn hòa làm một bị tách ra bao giờ chưa? Con sẽ không oán trách số phận nữa. Con cảm ơn ông trời đã cho con một tình yêu lâu bền nhất, cao thượng nhất, thuần khiết nhất, mãnh liệt nhất, sâu sắc nhất trên cõi đời này. Bao nhiêu người sống ở đời có được tình yêu như vậy? Con còn điều gì không hài lòng?” Liễu Địch lại dõi mắt về mặt trời lặn ở phía xa xa, cô nhẹ nhàng đọc câu thơ của Maksim Gorky[2]:
“Nét đẹp chung quy vẫn là nét đẹp,
Bất kể lúc nó úa tàn,
Tình yêu của chúng ta chung quy vẫn là tình yêu,
Ngay cả khi chúng ta chết đi.”
[1] Maksim Gorky (1868-1936): nhà hoạt động chính trị người Nga, nhà văn, người đặt nền móng cho trường phái hiện thực trong văn chương. Ông được xem là nhà văn kiệt xuất của nền văn học Nga thế kỷ 20
Giáo sư Tô không tiếp tục khuyên nhủ. Tình yêu như vậy liệu có thể lãng quên, có thể cắt đứt, có thể quay lưng?
“Thật ra...” Liễu Địch quay sang nhìn Giáo sư Tô. Đáy mắt cô đầy vẻ cảm động và lưu luyến: “Giáo sư nên vui mừng cho chúng con. Giáo sư nhìn thấy con cũng tức là nhìn thấy anh Hải Thiên. Con là con gái mà anh Hải Thiên tặng cho Giáo sư, con sẽ cùng anh Hải Thiên báo hiếu Giáo sư, cùng Giáo sư hưởng niềm vui. Bố nói có đúng không, thưa bố?”
Một luồng khí nóng dâng trào nơi viền mắt của Giáo sư Tô. Ông lặng lẽ nắm bờ vai Liễu Địch, không nói một lời. Vào thời khắc này, bất cứ từ ngữ nào cũng là thừa thãi. Con gái ông xuất sắc như vậy, ông còn điều gì không thỏa mãn?
Gió biển mạnh dần, thổi tung bay áo khoác gió và chiếc khăng quàng cổ màu trắng trên người Liễu Địch, khiến cô giống như một tiên nữ. Cô ngắm nhìn từng đợt sóng cuồn cuộn nhấp nhô, nghe thanh âm sôi sục của biển cả. Dần dần, thì thầm bên tai cô: “Liễu Địch, nếu chúng ta có kiếp sau, nếu kiếp sau tôi có đôi mắt sáng, tôi sẽ ở bến xe này... đợi em.”
Liễu Địch khẽ nói: “Thầy Chương, thầy hãy đợi em, nhất định em sẽ tới tìm thầy! Nhất định!”
Ở nơi xa, ông mặt trời đã chìm xuống biển, nhưng ráng chiều đẹp đẽ vẫn xán lạn, vẫn rực cháy ở nơi tiếp giáp giữa trời và biển.
0 comments:
Post a Comment